Lệch Nhịp

Chương 46: Gia Tộc Khol

Đăng: 02/07/2026 12:34 6,423 từ 464 lượt đọc

Mũi tên thứ mười hai Lior bắn để làm mẫu xuyên qua khe hẹp giữa hai tảng đá, ghim vào thân cây khô cách đó sáu mươi bước. Đầu thép nằm sát vệt ngang cô đã rạch bằng dao, lệch chưa tới nửa đốt ngón tay.

Aren đứng bên cạnh, tay vẫn giữ tư thế vừa buông dây. Mũi tên của cậu cắm xiên dưới đất, cách gốc cây ba bước rưỡi. Hôm qua còn cách bốn bước, xét theo con số thì quả thật có tiến bộ. Chỉ là trong mười mũi bắn từ sáng đến giờ, chín mũi bị gió đưa đi đâu tùy ý, mũi còn lại bay đúng hướng nhưng hết lực giữa đường.

“Cậu lại kéo bằng cả bàn tay.”

Lior đưa tay phải lên trước mặt cậu. “Ba ngón thôi. Trỏ, giữa, áp út. Móc dây ở đốt đầu, giữ cổ tay thẳng.”

Aren nhìn tay cô rồi nhìn tay mình. Ngón tay Lior dài, khớp rõ, ba đầu ngón phủ một lớp chai vàng nhạt. Tay cậu ngắn hơn, lòng bàn tay lại dày; khi cố móc dây, phần thịt giữa các ngón chen vào nhau, nom chẳng giống móc câu mà giống một cái bánh bị ép méo.

“Lại.”

Cậu đặt tên lên dây, loay hoay hai lần mới gài được đuôi tên vào đúng chỗ. Dây cung lún sâu vào kẽ ngón. Aren kéo tới nửa chừng, vai phải đã run lên; cậu cố giữ, sợi dây trượt khỏi tay trước lúc kịp ngắm. Mũi tên bay thấp lè tè, cắm phập xuống cỏ cách chỗ đứng mười lăm bước.

Lior nhìn mũi tên đang rung.

“Ít nhất lần này nó đi về phía trước.”

Aren quay sang. “Cô đang an ủi tôi à?”

“Tôi đang tìm điểm tốt để nói.”

Nói xong, chính cô cũng phải quay mặt đi một chút. Aren không chắc đó có phải cười hay không, nhưng khóe miệng cô đã nhúc nhích.

Lior rút một mũi tên khác, đặt lên dây. Từ lúc tay chạm ống tên tới lúc cung mở hết chỉ vừa nửa nhịp thở. Cô buông ngón. Tiếng dây bật gọn, mũi tên biến mất giữa hai tảng đá, sau đó tiếng “phập” mới vọng lại từ thân cây.

“Trượt,” cô nói.

Aren nhìn khoảng cách chưa đầy nửa đốt ngón tay giữa đầu tên và vệt dao. “Từ đó ở chỗ cô dùng khác chỗ tôi.”

“Lại bắn đi.”

Cậu bắn thêm mười mũi. Mũi thứ bảy chạm được một cành khô ở mép tán cây, nếu mục tiêu là cả cái cây thì miễn cưỡng tính là trúng. Mũi cuối bay thẳng nhất, song lực quá yếu, tới gần đích thì chúi đầu xuống và lăn thêm hai vòng trên nền đá.

Đến lúc đi nhặt tên, ba đầu ngón tay phải của Aren đã đỏ ửng. Đường dây cứa vào ngón giữa sâu nhất, hễ co tay là rát. Cậu thử đổi cách cầm theo đúng lời Lior, ép đầu ngón nông hơn một chút, kết quả mũi tiếp theo rời dây sớm đến mức suýt bay vào chiếc giỏ nước đặt bên trái. Lior dùng mũi chân gạt chiếc giỏ ra xa rồi mới bảo cậu tiếp tục. Cô không trách, cũng không giảm khoảng cách bia xuống; người mới học bắn lệch là chuyện thường, nhưng để một vật dễ vỡ trong vùng bắn lệch thì lỗi thuộc về người dạy.

Aren thử nghe nhịp cánh cung. Thân gỗ căng dần có một dao động rất rõ, dây cũng rung lên trước khi trượt khỏi ngón, song biết lúc nó sắp tuột chẳng giúp tay cậu mạnh hơn. Cậu có thể nghe cây cung phản đối mình, còn cây cung chẳng vì vậy mà chịu nghe lời.

Lior đợi cậu hạ cung mới chìa tay lấy lại. Cô kiểm tra dây, miết ngón qua đoạn vừa bị Aren kéo lệch rồi quấn nó quanh thân cung.

“Cây cung chiến này không hợp cậu,” cô nói. “Lực kéo quá nặng, cánh tay ngắn nên khó mở đủ, còn ngón tay chưa chịu nổi dây. Dùng cung nhẹ hơn có thể học được, nhưng muốn bắn tới mức dùng trong trận thì phải luyện lại từ đầu.”

“Bao lâu?”

“Vài năm, nếu mỗi ngày một trăm mũi.”

Aren gật đầu. Hai ngày qua đủ để cậu hiểu một trăm mũi đầu tiên sẽ làm ba ngón tay rách trước, sau đó mới tới vai.

Lior vắt cung qua vai trái. “Cậu cũng chậm hơn lúc ngắm khoảng nửa phách. Mắt đã chọn xong điểm bắn, nhưng đến khi tay buông thì điểm ấy trôi mất.”

“Vậy là tôi không hợp.”

“Với cung của nhà Khol thì không.” Cô nhìn về thân cây xa, nơi hai mũi tên của mình nằm gần như chồng lên nhau. “Nhưng cậu đọc được chuyển động nhanh hơn tôi ngắm. Tôi phải nhìn chân, nhìn vai, tính gió rồi mới sửa đường bắn. Cậu nhắm mắt cũng nghe được con vật sắp lệch bên nào.”

Aren nhớ lại đuôi sâu vương dồn lực qua từng đốt, nhớ cả khoảnh khắc mình chỉ kịp hét “né phải” trước khi Lior giật cương.

“Nếu cậu đứng sau và gọi hướng sớm cho tôi,” cô nói tiếp, “mũi tên có thể rời dây nhanh hơn một nhịp.”

“Chỉ một nhịp?”

“Một nhịp đủ để trúng khe khớp thay vì bật khỏi giáp.”

Ở bãi xác hôm trước, người cầm thương hệ Nhịp đã chờ đúng lúc khe giáp mở ra mới đâm. Aren cũng từng chỉ chỗ ấy cho Halric và Joren. Cậu không cần tự tay bắn trúng; chỉ cần để mũi tên của Lior rời dây đúng lúc hơn.

“Cảm ơn cô đã dạy,” Aren nói. “Dù kết quả không được đẹp.”

“Kết quả là biết thứ gì không nên mang vào trận. Vậy đã có ích.”

Lior quay về phía đoàn xe. Vết thương trên đùi trái khiến bước đầu tiên của cô hơi cứng, nhưng qua vài bước, dáng đi đã đều lại. Tóc được buộc cao, để lộ phần gáy rám nắng; cánh tay phải lớn hơn tay trái một chút vì mười ba năm kéo dây.

Aren nhặt những mũi tên mình đã bắn. Hai mũi cong cán, một mũi sứt lông, số còn lại dính đất. Cậu lau từng chiếc rồi ôm về, không để Lior phải quay lại tìm.

Toren đứng dựa vào thành xe gần nhất, hai tay khoanh trước ngực. Hắn đã nhìn bãi tập từ đầu, nên khi Aren đi ngang qua cũng không cần hỏi kết quả. Những mũi tên cắm khắp bãi cỏ đã trả lời thay.

Aren cúi chào. Toren gật đầu, sau đó nhìn cách cậu bước qua một khoảng đất mềm. Chân Aren tự lệch sang phải để bù trọng lượng; gặp người khiêng nước đi ngang, cậu giảm đúng nửa bước rồi trở lại nhịp cũ, không va vai cũng chẳng phải dừng hẳn.

“Không tự tay giết được cũng chẳng sao,” Toren nói. “Đứng sau giúp đúng người ra tay, miễn bản thân còn sống đến cuối trận.”

Aren dừng lại, nghiêng đầu nghe hết câu rồi mới bước tiếp.

Toren vân vê cằm. Thằng nhóc nghe, hiểu, nhưng chưa vội đáp. Hắn vốn thích người nghĩ xong mới nói; ở tuổi mười lăm, người như vậy càng khó gặp.

Lior ngồi xuống cạnh bánh xe, dựa lưng vào và duỗi chân trái ra trước. Vải băng quanh đùi đã được thay từ sáng, bên ngoài không còn thấm máu, song phần cơ dưới vết cắt vẫn đau mỗi lần cô co gối.

“Không hợp,” cô nói.

“Cung không hợp. Nhịp thì hợp.”

“Em biết.”

Toren liếc sang. “Biết mà còn bắt cậu ta bắn hai ngày?”

Lior lấy khăn lau dọc thân cung. “Muốn xem cậu ta thua thế nào.”

“Rồi sao?”

“Không cáu, không trách cung, cũng chẳng cố bắn thêm để chứng minh mình làm được. Nghe xong thì gật.” Cô lật mặt khăn, lau tiếp đoạn cán đã bóng lên vì mồ hôi tay. “Mười lăm tuổi mà biết mình dở việc gì, hiếm.”

Toren phì cười. “Miệng em chịu khen người khác, còn hiếm hơn.”

“Anh nghĩ gì?”

“Đang nghĩ em vừa khen cậu ta.”

Lior ngẩng lên. “Đừng lảng. Từ lúc cậu ta đánh con bọ cạp, anh cứ sờ cằm mãi. Có chuyện gì?”

Toren bỏ tay xuống. Hắn ngồi đối diện em gái, hai chân xếp bằng trên nền đất, giọng cũng bớt đùa.

“Bỉ đấu. Sáu tháng nữa.”

Ngón tay Lior dừng trên dây cung.

Ba năm một lần, bốn gia tộc lớn ở Lensa đưa đội trẻ ra tranh quyền khai thác các mỏ ấn thạch quanh dải Thất trấn. Thắng thua quyết định nhà nào được chọn mỏ trước, giữ tuyến vận chuyển nào và nhận phần thu trong ba năm tiếp theo. Trẻ con nhà Khol nghe về cuộc bỉ đấu từ lúc còn chưa kéo nổi cung hay nâng nổi khiên; người lớn nhắc nó trong bữa cơm, ngoài sân tập và cả lúc kiểm đếm từng túi ấn thạch nhập kho.

Các gia tộc không trực tiếp đào từng hầm mỏ. Họ cấp ấn thạch dự phòng, vũ khí, xe và người bảo vệ cho các trấn; thương đội chở quặng thô về Lensa, đổi lại lương thực, dược liệu cùng tiền công lại đi theo xe xuống vùng biên. Mỗi mỏ chỉ là một đầu trong cả mạng lưới. Quyền chọn được tuyến gần, nền đường chắc và có giếng nước đôi khi đáng giá hơn một mạch quặng giàu nhưng nằm sâu giữa sa mạc.

Vì thế, bỉ đấu chưa bao giờ chỉ để xem đứa trẻ nào đánh giỏi. Sau mỗi đội năm người là kho lương, tiêu cục, thợ mỏ và hàng nghìn người sống nhờ tuyến mà đội ấy giành được. Người vào sân có thể mới mười lăm, mười sáu tuổi; người ngồi tính kết quả đều đã qua tuổi ấy từ lâu.

Lior cúi nhìn bàn tay phải. “Em quá tuổi rồi.”

“Anh biết.”

“Mười tám tuổi hai tháng. Luật ghi dưới mười tám, Khai Ấn sơ cấp.”

“Anh cũng biết.” Toren dựa vai vào bánh xe. “Vả lại em đã Định Ấn. Cho em vào thì bọn trẻ nhà khác chưa kịp giương vũ khí đã nằm hết, còn đấu gì nữa.”

Lior khịt mũi. “Luật ấy sinh ra để người lớn khỏi ném bọn thiếu niên vào tranh mỏ rồi gọi đó là vinh dự.”

“Ừ. Nên phần của em là đứng ngoài giúp chúng nó khỏi làm chuyện ngu.”

Cô im lặng một lát rồi hỏi: “Đội năm người?”

“Ba trực hệ cùng hệ, hai vị trí vòng ngoài được dùng hệ khác.”

“Vael, Dren và Mira.”

Toren gật đầu. Vael mười sáu, Dren mười bảy, cả hai đã luyện Tích Xả từ nhỏ. Người cuối cùng là Mira, em út nhà Khol, vừa tròn mười lăm. Nhắc đến cái tên ấy, hắn day nhẹ giữa hai đầu mày.

Vael dùng khiên tròn và thích giữ đội hình kín. Cậu ta chịu đòn tốt, làm việc theo thứ tự, nhưng mỗi lần tình huống lệch khỏi bài tập đều mất một lúc mới sửa. Dren trái ngược, cầm gậy sắt, thấy khoảng trống là lao vào; sức xả mạnh nhất trong ba người, cũng là kẻ dễ rời vị trí nhất. Còn Mira chẳng cần ai tạo khoảng trống. Cô bé tự dùng nắm đấm mở một cái, rồi tiếp tục đánh rộng ra cho tới khi hết đối thủ hoặc hết sức.

Ba người cùng hệ nhưng không tự nhiên trở thành một đội. Vael muốn giữ, Dren muốn tiến, Mira thường đã chạy được nửa đường trước khi hai người kia quyết định xong. Một người đứng phía sau đọc được thời điểm sẽ giúp họ bớt giẫm lên nhịp của nhau.

Lior nhìn thấy. “Anh chắc muốn đưa con bé vào?”

“Chắc nó đủ mạnh. Còn nó có đánh gãy tay đồng đội trước khi gặp đối thủ hay không thì anh chưa chắc.”

Lior bật cười. Mira dùng Tích Xả theo cách đơn giản nhất: dồn lực vào hai nắm đấm, lao tới rồi đánh cho đến khi một bên ngã xuống. Khiên của Toren dùng để nhận lực trước khi trả lại; tên của Lior giữ lực tới đúng khoảng cách mới xả. Mira không thích chờ cả hai việc ấy.

“Con bé không có phương án lùi,” Lior nói.

“Có. Đấm xong mới lùi.”

“Đấy không gọi là phương án.”

Toren nhún vai. “Bởi vậy mới cần người đứng cạnh mà nó chịu nghe.”

“Hor Trach?”

“Vị trí vòng ngoài thứ nhất.” Toren đếm trên ngón tay. “Mười sáu tuổi, hệ Che Phủ, vào nhà Khol từ năm mười hai. Cha cậu ta buôn muối ở khu bắc Lensa, gửi con vào đây học. Hor Trach che được nhịp ba người trong khoảng năm nhịp thở nếu chưa phải di chuyển mạnh. Không dài, nhưng đủ để đổi vị trí hoặc mở một đợt đánh.”

“Trung thành thì sao?”

“Bốn năm ăn cơm nhà mình, vẫn giữ lễ với người quét sân. Anh không lo chuyện đó.”

Lior tính lại đội hình. “Một người che, ba người đánh. Còn thiếu một người nhìn.”

“Ừ.”

Gió từ phía tây bắc kéo cát mịn qua gầm xe. Xa hơn, Aren đang đưa lại bó tên cho một phu xe, còn tự tách riêng hai mũi cong cán để khỏi lẫn vào số dùng được.

Lior nói thẳng: “Anh muốn mời cậu ta.”

“Vào vòng ngoài, nhận vị trí thứ hai của đội bỉ đấu.”

“Cậu ta là đồ đệ Mo Zigu.”

“Gia nhập nhà Khol không có nghĩa phải bỏ sư phụ.”

“Còn tiêu cục, quán Vesna, những người quen ở Lonsa?”

Toren nhìn em gái. “Anh định mời, đâu định trói mang về.”

Hắn giơ từng ngón tay, tự kiểm tra lời mời của mình. “Ở Lonsa, cậu ta có tiền công của tiêu cục khi nhận nhiệm vụ, một chỗ ngủ trong kho quán Vesna và số ấn thạch tự kiếm được. Mo Zigu là sư phụ, nhưng ông ta đi đâu chẳng ai quản nổi. Nếu cậu ta về Lensa, nhà Khol cấp phần ấn thạch cố định, có sân tập, có người dạy hệ Nhịp nếu tìm được, ít nhất cũng có kho sách và y ấn sư.”

“Anh vừa kể toàn phần tốt.”

“Phần xấu là bị quản, phải nhận việc, có thể bị gọi đi lúc không muốn và mang danh nhà Khol thì lỗi của mình cũng thành lỗi của cả nhà.” Toren hạ tay. “Còn bỉ đấu, cậu ta sẽ phải đứng cùng bốn người chưa quen, đối đầu những đội được luyện với nhau từ nhỏ. Hệ Nhịp hiếm khiến người khác muốn có cậu ta, cũng khiến họ muốn loại cậu ta trước.”

Lior gật. “Nói với cậu ta đúng như vậy.”

Lior không đáp ngay. Cô đã quan sát Aren suốt hai ngày, đủ để biết cậu ít nói nhưng nghe rất kỹ. Nếu nhà Khol chỉ đem ấn thạch và cái danh gia tộc ra làm mồi, cậu có thể vẫn gật vì cần sống, song cái gật ấy sẽ chẳng khiến cậu thật sự đứng về phía họ.

“Nói rõ cái giá,” cô bảo. “Cậu ta nhận ấn thạch, người dạy và bảo hộ của nhà Khol; đổi lại phải đấu cho nhà mình, nhận nhiệm vụ và tuân quy củ vòng ngoài. Đừng chỉ kể phần dễ nghe.”

“Đương nhiên.” Toren gãi tai. “Em nghĩ anh giống kẻ lừa trẻ con lắm à?”

“Anh đang tính kéo một đứa mười lăm tuổi về nhà để giúp Mira đấm người.”

Toren suy nghĩ rồi thừa nhận: “Nghe em nói thì đúng là hơi giống.”

Lior đưa mắt về phía Aren. Nếu cậu vào đội, Hor Trach sẽ che nhịp của ba người nhà Khol, còn Aren đứng sau đọc nhịp đối thủ và gọi hướng. Mira không cần bị bắt dừng; cậu chỉ việc bảo cô bé đánh vào đâu và đánh lúc nào.

“Mira sẽ nghe sao?” cô hỏi.

“Con bé ghét người bảo nó ngừng, chứ không ghét người chỉ chỗ để đấm.” Toren cười. “Aren mà hét ‘bên trái, đánh mạnh hơn’, nó nghe ngay.”

Lior thử hình dung, sau đó cũng phải gật đầu. “Một che, một đọc, ba Tích Xả.”

“Đúng đội hình anh nghĩ.”

“Anh nghĩ sẵn rồi, chỉ chờ em nói ra.”

“Em nói gọn hơn.”

Cô cuộn khăn lại, nhét vào túi yên. “Còn Doran?”

Toren lại đưa tay lên cằm. Lần này hắn không cười.

“Anh muốn mời ông ấy nhận ấn bài vòng ngoài chính thức của nhà Khol.”

Lior nhướn mày. “Ông ấy vừa lên Định Ấn, lại đang làm đoàn trưởng tiêu cục Doran. Anh định bảo người ta bỏ cả đội của mình để theo anh?”

“Có thể đưa cả tiêu cục vào dưới danh nghĩa hợp tác, hoặc ông ấy chỉ nhận ấn bài và làm việc theo nhiệm vụ. Chưa nói thì chưa biết ông ấy cần gì.” Toren nhìn sang cỗ xe đầu. “Nhưng một Định Ấn hệ Cố Định dùng chính thân thể làm neo, nhà Khol tìm mười năm chưa chắc gặp người thứ hai.”

Hắn vẫn nhớ lúc Doran bước khỏi đội hình, đặt trung thạch lên ngực và ghìm đầu sâu xuống đất. Ngón trỏ gãy trước, ba ngón còn lại lần lượt lệch khỏi khớp, nhưng điểm neo không hề xê dịch. Đến khi con vật ngừng quẫy, ông mới buông tay. Lối chiến đấu ấy thô bạo với chính người dùng, đồng thời làm được việc mà Tích Xả của nhà Khol rất cần: giữ một mục tiêu mạnh hơn đứng yên đủ lâu để đòn sau cùng đánh trúng.

“Nếu ông ấy chỉ cần chữa tay rồi quay về tiêu cục?” Lior hỏi.

“Thì nhà Khol bán thuốc, nhận tiền, hết chuyện. Mời người không có nghĩa người ta nợ mình một câu đồng ý.”

“Ông ấy cũng đang tự bẻ gãy mình sau mỗi trận.”

“Vì thế mới có lý do để nghe.”

Nhà Khol có y ấn sư, kho ấn thạch và người chuyên chữa các thương tổn do phản lực. Tiêu cục Doran không thể sánh với một gia tộc lớn về những thứ ấy. Đổi lại, nhà Khol sẽ có một người đủ sức ghim đối thủ xuống cho các Tích Xả đánh, một cái neo mà sáu đời huyết mạch của họ vẫn thiếu.

Lior nhớ lại cảnh Doran giữ hai con sâu bằng bàn tay đã gãy ngón. “Ông ấy không thích mắc nợ.”

“Vậy thì đổi công bằng. Nhà Khol chữa và nuôi, ông ấy làm việc. Để ông ấy tự chọn phần nào đáng hơn.”

Gió mạnh thêm, cát quất vào thành xe nghe lạo xạo. Lior đưa mu bàn tay che mắt. Khi nhìn qua kẽ ngón, cô thấy anh trai đang hướng về phía tây bắc, nơi các tuyến đường mỏ đã lần lượt im tiếng.

“Đường vận chuyển sắp đứt hết, phải không?” cô hỏi.

Toren không trả lời ngay. Ngoài Haran đã mất, Korlin vừa trải qua một trận giữ thành; những đoàn xe từ bắc xuống Lonsa ngày càng thưa, còn giá muối, dầu và lương thực ở các trấn đều tăng.

“Mỏ chưa cạn,” hắn nói. “Đường tới mỏ mới là thứ đang mất. Haran đổ thì tuyến bắc coi như xong. Korlin giữ được lần này, nhưng không ai biết lần sau. Nếu Korlin cũng mất, Lonsa sẽ thành trấn đầu tuyến.”

Những xe hàng mất ở Haran không chỉ mang quặng. Chúng còn chở thư, thuốc, người thay ca và tiền trả cho các thợ mỏ. Một tuyến dừng mười ngày, kho trấn bắt đầu thiếu; dừng một tháng, thợ tự bỏ hầm để đưa gia đình đi. Khi người đã tản, dù thú triều rút hết cũng không thể lập tức đào lại như cũ.

Ngón tay hắn gõ lên đầu gối hai lần rồi dừng. “Ba năm trước, bỉ đấu là chuyện nhà nào chọn được mỏ tốt. Ba năm tới, có khi phải tranh xem còn mỏ nào đưa người tới được.”

Lior nhìn cây cung trên đùi. Mỏ ấn thạch nuôi bốn gia tộc lớn ở Lensa, còn các gia tộc dùng người, vũ khí và hàng hóa giữ cho dải Thất trấn tiếp tục tồn tại. Một tuyến bị cắt, cả hai đầu cùng thiếu; trong thời loạn, nhà nào hụt người trước sẽ bị ba nhà còn lại ép khỏi bàn.

“Anh định nói khi nào?”

“Về tới Lonsa. Đợi Doran chữa tay, đợi Aren gặp lại sư phụ rồi nói. Trên đường này mà đưa lời mời, nghe giống ép người đang mắc nạn.”

Lior gật đầu. “Ít nhất anh còn biết.”

Toren chống tay đứng dậy, phủi cát khỏi quần. Cô cũng đứng lên, thử dồn lực vào chân trái rồi mới vắt cung lên vai.

“Tiếc không?” hắn hỏi.

Lior quay lại. Chỉ Toren mới nhận ra mắt cô chùng xuống một chút.

“Có.” Cô đáp rất thẳng. “Nhưng em đã Định Ấn. Vào đánh với đám Khai Ấn thì chẳng công bằng, cũng không vui.”

Cô bước về phía lửa trại đang được nhóm gần đoàn xe. Toren nhìn theo, đợi em gái đi xa mới lẩm bẩm:

“Em thì vui. Bọn kia mới không vui.”

Aren đang ngồi xổm bên bếp, hai tay ôm bát cháo nóng, mặt tròn đỏ lên vì hơi. Ở cỗ xe đầu, Doran tựa lưng vào thùng hàng, bàn tay phải nẹp gỗ đặt sát ngực. Bốn ngón vẫn sưng bầm, còn đôi mắt ông không ngừng kiểm tra người và xe quanh mình, ngay cả lúc nghỉ.

Toren vân vê cằm thêm lần nữa rồi đi về phía bếp. Lior ở bên kia ngẩng lên, trông thấy động tác ấy liền dùng cán cung gõ xuống đất một tiếng.

Hắn lập tức bỏ tay khỏi cằm.

* * *

Chương 48: Haran

Bốn con ngựa ấn thú dừng trước cổng tây Haran vào giữa trưa. Không ai xuống ngay.

Cánh cổng đã biến mất. Hai trụ đá cao ba trượng còn đứng, trụ trái nghiêng hẳn vào trong, trụ phải nứt dọc từ đỉnh xuống chân. Xà ngang gỗ bọc sắt gãy đôi; một nửa nằm lẫn dưới đống đá phía trong trấn, nửa còn lại treo trên bản lề và kẽo kẹt mỗi khi gió luồn qua. Phần lớn gạch đá bị cú húc đẩy vào trong. Ở rìa khe vỡ, vài mảng tường lại đổ ngược ra ngoài sau khi chân móng mất chỗ tựa, tạo thành hai lớp đổ chồng lên nhau.

Ngay sau cổng là xác ba xe quặng đã bị nghiền bẹp. Bánh gỗ vỡ vụn, trục sắt cong quặp và những tảng đá dùng chèn lối nằm rải khắp sân. Trên một phiến đá đỏ có vết cào dài của lớp giáp đầu, kèm mảng dịch đen đã khô. Con sâu vương đã húc qua chỗ này nhiều lần; khi lách khỏi khe hẹp, phần giáp quanh vết thương cũ bị bức tường cứa vỡ thêm.

Bạch diện nhìn cổng từ trên lưng ngựa. Tay trái hắn nắm cương, cánh tay phải buông sát hông. Sau lần dùng Vân Đao, phần vai ấy teo tóp, cơ gần như mất hết, các ngón tay chưa cử động lại được.

Hắn từng qua cổng này nhiều lần. Mỗi sáng, lão lính gác có vết sẹo dài trên cổ đều ngồi trên chiếc ghế gỗ cạnh trụ phải, gặp người quen thì giơ tay thay lời chào. Ghế đã mất. Dưới chân trụ chỉ còn một vệt máu nâu đen kéo vào trong trấn rồi chìm dưới gạch.

Bạch diện thúc gối. Con ngựa đầu đàn bước qua khe cổng; ba con còn lại nối theo.

Đường chính Haran rộng bốn trượng, trước kia lát đá phiến xám, hai bên là nhà gạch san sát. Bây giờ mặt đường nứt vỡ, đất đỏ trộn cùng cát, máu khô và những mảnh vải không còn nhìn ra màu. Có căn nhà chỉ sập mái, có căn mất cả mặt tường, để lộ bàn ăn, phản ngủ và những chiếc bát vỡ nằm nguyên ở vị trí người ta đã bỏ chạy. Quần áo vẫn mắc trên dây phơi, phủ bụi dày. Gió qua các khung cửa trống phát ra tiếng ù đều đều.

Vệt bánh xe sơ tán còn in trên phần đất mềm gần cổng nam, nhiều lớp chồng lên nhau rồi kéo thẳng về phía đông. Xen giữa là dấu chân người, chân lừa và những rãnh dài do cáng kéo. Ở vài chỗ, vệt máu đi cùng đoàn được phủ vội bằng cát, nhưng gió đã thổi lớp cát ấy mỏng đi. Người Haran từng rời trấn thành một dòng lớn trước lúc tường vỡ; nhóm giữ thành chạy sau, ít hơn rất nhiều và không còn đủ xe.

Giáp Nhất cưỡi bên phải Bạch diện, cặp vòng sắt nơi cổ tay thỉnh thoảng rung lên để dò chấn động dưới đất. Giáp Tam giữ phía sau, cứ vài bước lại ngoái nhìn đoạn đường họ vừa qua. Giáp Nhị đi cuối.

Bạch diện không quay đầu, nhưng tiếng vó của con ngựa thứ tư đã chậm hơn nửa nhịp. Người trên yên lỏng tay cương và đang nhìn về phía quán cháo ở đầu đường rẽ.

Mái tranh sập xuống quầy gỗ. Chiếc nồi đồng lớn nằm nghiêng giữa nền, đáy cháy đen; chiếc muôi gãy cán bị ép dưới một thanh xà. Trên bức tường sau bếp có năm rãnh cào chạy từ trên xuống, khoảng cách đều nhau. Vết của càng bọ cạp lớn.

Ngựa Giáp Nhị dừng hẳn.

Bàn tay từng cầm đao chém qua giáp thú đang đặt trên đùi, các ngón khép chặt đến mức khớp tay trắng bệch. Gã đã ngồi ở chiếc ghế chân vênh cạnh tường suốt bốn năm, ăn bát cháo bò đặc quánh vào mỗi buổi sáng. Bà chủ quán biết gã là truyền ấn sư trong hẻm nam, một người ăn khỏe, ít nói và trả tiền đúng ngày. Bà không biết chiếc mặt nạ đồng đang cất dưới sàn viện, càng không biết những lúc rời Haran, gã đi đâu và giết thứ gì.

Bạch diện quay đầu.

“Giáp Nhị.”

“Dạ.”

Chỉ một tiếng đáp, đều và rõ. Nắm tay trên đùi vẫn giữ nguyên.

Bạch diện không hỏi thêm. Hắn quay lại đi trước, để Giáp Nhị tự quyết định lúc nào thúc ngựa.

Qua ngã ba phía nam là con hẻm gạch đỏ. Cuối hẻm, cánh cửa gỗ sơn xanh mở toang, một bên bản lề đã gãy. Đó là viện truyền ấn của Giáp Nhị, nơi gã dùng thân phận khác để dạy trẻ trong trấn khai ấn.

Bảy đứa đã ngồi trên những tấm đệm cũ trong căn phòng ấy. Ba đứa khai ấn thành công, bốn đứa thất bại nhưng vẫn sống, một tỷ lệ đủ khiến nhiều truyền ấn sư phải ghen. Chúng chỉ biết thầy mình là người từ nơi khác tới, dạy nghiêm, hay quên giờ ăn. Không đứa nào biết tên Giáp Nhị, bởi cái tên ấy chỉ tồn tại sau lớp đồng.

Gã không dám nhìn lâu vào cánh cửa. Một đôi giày nhỏ còn nằm dưới bậc, chiếc bên trái úp, chiếc bên phải ngửa. Cụ thể đến thế còn đau hơn một căn nhà đổ nát. Ngựa của gã rẽ theo ba người phía trước.

Quảng trường trung tâm từng là chợ buổi sáng. Sạp gỗ đã bị giẫm vỡ, vải bạt rách phủ lên những đống hàng thối khô. Gốc ngô đồng giữa quảng trường gãy ngang thân, phần ruột gỗ lộ ra trắng nhợt.

Giáp Nhất xuống ngựa trước. Gã đi một vòng, để hai vòng sắt rung qua từng hướng rồi nói: “Dưới đất không còn vật lớn. Có nhiều đường đào cũ, đều đã rời trấn.”

Giáp Tam buộc bốn con ngựa vào phần thân cây còn lại, kiểm tra các mái nhà quanh quảng trường. “Không thấy chuyển động.”

Bạch diện xuống ngựa. “Giáp Nhị.”

Gã vẫn ngồi trên yên.

“Xuống đi.” Giọng Bạch diện hạ thấp. “Không cần vội.”

Giáp Nhị chống tay vào yên rồi bước xuống. Thanh đao bên hông đã mỏng chỉ còn một phần ba so với lúc xuất phát. Mỗi nhát Biến Dạng giúp lưỡi thép đạt độ sắc vượt quá giới hạn vốn có, chính kim loại cũng bị ăn mòn theo nhát chém.

Gã nhìn về phía bắc trấn.

Đoạn tường nơi cổng bắc từng đứng đã sập vào trong thành một bãi gạch dài. Một vỏ sâu thường nằm vắt ngang khe, ba đốt đầu vỡ nát, phần thịt bên trong đã bị bọ cạp moi sạch; chỉ còn lớp giáp khô và những vòng răng gãy cắm trong đá. Phía sau xác sâu, những rãnh lớn trên nền cho thấy một con khác từng lùi ra ngoài với hàm dưới bị thương. Vết dịch đen kéo khỏi cổng rồi mất hút ở bãi cát phía bắc.

Giữa đống gạch có một mảnh giáp ngực bẹp dí. Viền đồng, loại giáp của đoàn trưởng tiêu cục. Trên vai trái khắc một chữ Thẩm bằng tay.

Giáp Nhị đi tới. Mỗi bước đều nặng hơn bước trước.

Thẩm Khoát, bốn mươi bảy tuổi, Định Ấn hệ Tích Xả, đoàn trưởng tiêu cục Thẩm gia. Năm năm trước, khi Giáp Nhị mới nhận nhiệm vụ dài hạn ở Haran, Thẩm Khoát là người đầu tiên bắt chuyện với gã tại cổng trấn. Lão to con, giọng ồm, cười lớn đến mức người ngồi bàn bên cũng nghe. Hai người uống rượu với nhau mỗi tháng vài lần. Thẩm Khoát kể chuyện áp tiêu, chửi giá thịt tăng, đôi khi khoe vết sẹo cũ; Giáp Nhị phần lớn chỉ ngồi nghe.

Lão từng hỏi gã từ đâu tới.

“Đi nhiều nơi.”

“Gia đình?”

“Không còn.”

Thẩm Khoát không hỏi nữa. Lão rót thêm rượu, đẩy đĩa thịt sang bên kia bàn. “Thế thì ở đây đi. Haran nhỏ, nhưng người sống được.”

Một tháng trước, lệnh điều động được gửi tới viện. Phong bì niêm sáp đen, bên trong chỉ có mấy dòng: Giáp Nhị đi cùng đội do thám, tiến vào sa mạc sâu, lên đường trong ba ngày.

Gã không từ biệt ai. Quy củ của Lâu không cho phép, mà nếu được phép, gã cũng chưa chắc biết phải nói gì. Trên cửa viện chỉ để lại mảnh giấy: Có việc. Sẽ quay lại.

Gã đã quay lại.

Cổng tây và cổng bắc đều vỡ. Ở cổng tây, dưới một trục xe quặng cong còn chiếc ủng của Halden cùng thanh đao ngắn bị giẫm lệch sống. Đội trưởng Ty Trấn Vệ không để lại phần thi thể nào khác. Tại cổng bắc, xác sâu thường chứng minh Thẩm Khoát đã giết được ít nhất một con trước khi ngã xuống; đường dịch kéo ra ngoài cho thấy sâu vương bị đánh nứt hàm nhưng vẫn sống.

Giáp Nhị từng nghe Thẩm Khoát nói về việc giữ hai cổng trong những buổi rượu. Nếu tường tây cùng tường bắc bị ép, lão sẽ giao một phía cho Halden, tự giữ phía còn lại. Lão còn bảo, nếu không giữ nổi, bằng mọi giá phải chừa đường nam cho người sống. Vệt rút trên mặt đường, ba xe quặng tại cổng tây và xác sâu chắn cổng bắc đều đúng với thói quen chia lực ấy. Chỉ có người tính không còn ở đây để nói phần nào đã sai.

Hai con sâu vương đều rời khỏi Haran. Một con mang vết thương ở đầu và cổ, con kia nứt hàm dưới. Chúng đã phá hai cổng, mở đường cho bọ cạp cùng bốn con sâu thường còn lại tràn vào. Dấu chân chạy qua cổng nam là phần sót lại của nhóm giữ thành cuối cùng: năm ấn sư che cho hơn ba mươi phàm nhân. Những người khác đều nằm lại.

Giáp Nhị cúi xuống nhặt mảnh giáp. Chữ Thẩm khắc sâu, nét cuối hơi lệch. Lão từng bảo đồ đúc khuôn ai cũng giống ai, tự tay khắc mới nhớ được nó là của mình.

Rìa sắt cứa vào lòng bàn tay Giáp Nhị. Máu rỉ qua kẽ ngón rồi nhỏ xuống gạch, nhưng gã không buông.

Nếu lệnh đến chậm một tháng, gã sẽ đứng tại đây. Một Định Ấn hệ Biến Dạng bên cạnh Thẩm Khoát hệ Tích Xả chưa chắc giữ nổi hai sâu vương và cả thú triều, song lão sẽ có thêm một lưỡi đao ở cổng bắc. Ý nghĩ ấy chẳng thay đổi được kết quả, vẫn bám lấy gã từ lúc nhìn thấy quán cháo.

Bạch diện đứng cách ba bước. Hắn không biết tên thật của Giáp Nhị, cũng chưa từng nghe gã nhắc tới Thẩm Khoát. Tuy vậy, sự yên lặng trước mặt quá gượng, giống một cánh cửa bị giữ chặt từ phía trong. Hắn không cần mở nó ngay lúc này.

“Giáp Nhất kiểm tra dấu rút ở cổng bắc. Giáp Tam sang cổng tây.” Bạch diện dừng lại. “Giáp Nhị ở đây.”

Giáp Nhị gật đầu. Gã ôm mảnh giáp đi về phía con hẻm cửa xanh.

Bạch diện nhìn theo tới khi bóng gã khuất sau tường, sau đó mới bước về phía đông trấn. Sau một căn nhà kho còn nguyên nền đá có lối xuống căn phòng bí mật mà đội do thám dùng để gửi tin.

Phòng chỉ rộng bằng nửa gian bếp, trần thấp và không có cửa sổ. Một viên ấn thạch sơ cấp đặt trong khay đồng trên tường tỏa ánh xanh nhạt, đủ soi mặt bàn. Bạch diện tháo mặt nạ trắng, ngồi xuống, dùng tay trái trải giấy.

Hắn viết từng dòng ngắn:

Haran thất thủ. Cổng tây, cổng bắc cùng vỡ. Dấu vết xác nhận năm sâu thường và hai sâu vương tham chiến; một sâu thường chết tại cổng bắc, hai sâu vương đều rời trấn với thương tích. Lực phòng thủ trung cấp đã mất. Khoảng cách từ Haran tới nguồn phát gần mười ngày đường bằng ngựa ấn thú.

Ngòi bút dừng một lúc rồi viết tiếp:

Ảnh Vực Trì Ảnh bậc ba, hệ Nhịp, đường kính ước mười lăm đến hai mươi dặm. Lõi đang thai nghén, cường độ đã tiến gần ngưỡng bậc bốn. Ấn thú bị đẩy khỏi vành vực liên tục, phần lớn tràn về đông nam. Dao động trong lõi tự đổi, không lặp. Nghi ngờ có cấu trúc chủ động bên trong. Đề nghị Kim diện trực tiếp quan sát. Khẩn.

Bạch diện cuộn giấy, nhét vào ống trúc nhỏ bằng ngón tay út rồi niêm sáp đỏ. Trong chiếc lồng đặt dưới bàn có một con chim xám nâu, thân chỉ bằng nắm tay, mắt đen và tỉnh. Nó là ấn thú hệ Hướng đã được thuần hóa để mang tin; đường về không cần chỉ dẫn, bởi tọa độ của một điểm nhận đã được khắc vào nhịp bay từ lúc còn non.

Hắn buộc ống trúc vào chân chim, nâng lên lỗ thông gió. Con vật bám mép đá, nghiêng đầu nhìn căn phòng một lần rồi vút ra ngoài.

Bạch diện ngồi lại, tay trái xoa phần vai phải teo tóp. Cơn lạnh nằm sâu trong xương, mỗi lần thở mạnh lại lan xuống cánh tay. Trên mặt bàn, chiếc mặt nạ trắng phản ánh xanh mờ, phẳng đến mức gương mặt vừa tháo nó ra trông mới giống thứ đang bị che giấu.

Hắn đeo mặt nạ trở lại và leo lên mặt đất.

* * *

Một ngày sau, con chim vượt qua thảo nguyên, một nhánh sông và rìa rừng phía đông. Nó hạ thấp độ cao khi gặp khu rừng mà thợ săn quanh vùng gọi là Rừng Chết.

Người lạc vào đó thường không tìm lại được đường ra. Tán cây dày đến mức buổi trưa cũng chỉ có vài vệt sáng rơi xuống đất. Rêu phủ kín đá, thân cây và cả những cành còn sống. Các bụi lá trắng mọc quay mặt xuống dưới, bất kể ánh nắng nằm ở hướng nào; rễ của chúng không bám vào đất mà chui giữa các khe đá, cùng hướng về sâu trong rừng.

Một lớp sương treo giữa các thân cây quanh năm. Sương không làm ướt tóc hay đọng trên lá. Gió thổi qua, nó chỉ lõm xuống rồi chậm rãi đầy lại. Những dải mỏng xoay thành vòng theo một nhịp dài, khiến người đứng ngoài rìa nhìn vào chỉ thấy thêm vài hàng cây, sau đó tự nhiên quên mất vì sao mình muốn tiến tiếp.

Che Phủ cấp cao.

Con chim không bị lớp che dẫn lạc. Nó bay theo đường Hướng đã khắc, xuyên qua sương rồi hạ xuống một khe núi hẹp. Hai vách đá dựng đứng phủ rêu đen; đáy khe là lòng suối cạn với những viên cuội trắng, tất cả đều quay mặt nhẵn lên trên như đã được ai đó xếp lại.

Lòng suối dẫn tới một thung lũng bị vách đá khép kín. Ở giữa thung lũng có một tòa tháp bảy tầng bằng đá đen.

Mỗi phiến đá nặng hơn một con ngựa nhưng ghép sát tới mức không lách nổi đầu kim. Không vữa, không chốt lộ ra ngoài. Phần móng chìm thẳng vào nền đá; những rễ cây trắng từ khắp thung lũng bò tới gần rồi đồng loạt đổi hướng, tạo quanh tháp một vòng đất trống rộng ba bước.

Cả bảy tầng đều thu nhỏ dần. Khe cửa hẹp phát ra ánh xanh lục nhạt, sáng rồi dịu theo chu kỳ. Ba tầng dưới đóng kín. Tầng bốn có bóng người đi qua, hoặc một hình gì đó có chiều cao giống người. Tầng sáu và tầng bảy tối om.

Tầng năm sáng hơn.

Con chim lượn một vòng rồi chui qua khe cửa sổ chỉ rộng ba ngón tay. Gần nửa giờ sau, nó bay ra, chân không còn ống trúc. Nó xuyên khỏi lớp sương, lên tới khoảng trời sáng phía trên rừng rồi đổi hướng về nam.

Tòa tháp vẫn đứng im. Ánh sáng ở tầng năm đập ba nhịp chậm, dừng một khoảng dài rồi tắt.

1

Được yêu thích bởi: Gadian

Ủng hộ tác giả BrightRiver Nếu truyện hợp gu với bạn, hãy ủng hộ mình một cốc cà phê nhé. Mình sẽ không để truyện nào drop...