Thần Dụ

Chương 13: Người Trở Lại Mà Không Nhớ

Đăng: 08/11/2026 22:02 1,674 từ 1 lượt đọc

Người đàn ông áo nâu đứng dậy khi tên ông sáng lên trên tấm bảng.

Ông đặt cuốn sổ xuống đệm, dùng hai tay chống người. Người phụ nữ đeo đồng hồ nứt vội đưa tay đỡ, nhưng ông lắc đầu. Ông đã đứng được; chỉ đến lúc cúi lấy chiếc túi vải, đầu gối ông mới hơi chùng xuống.

Người điều hành mở tấm rèm sau bàn. Một cánh cửa nhỏ hiện ra phía sau, trên khung có gắn mảnh gỗ màu bạc. Người đàn ông nhìn cánh cửa ấy, rồi quay lại chỗ người phụ nữ trẻ.

Chị đưa ông một tờ giấy. Ông viết lời hẹn lên đó, rồi đẩy lại cho chị đọc.

“Tôi sẽ hỏi về chị cô ở phía ngoài. Nếu lần sau còn gặp, tôi đem câu trả lời tới.”

Chị đặt tay lên trang giấy, gật đầu. Cô nhìn dòng chữ, tự hỏi “phía ngoài” là nơi nào. Liệu người đàn ông định quay lại qua hồ như con đường cô và Nam Phong vừa đi, hay ông biết một lối khác dẫn ra ngoài?

Cô đứng dậy trước khi ông đi.

“Ông ra ngoài bằng cửa đó sao? Có thể chỉ cho tôi đường về không?”

Ông đọc trong điện thoại cô, ngước nhìn cánh cửa sau rèm rồi lắc đầu. Ông viết vào mặt sau tấm thẻ hình đèn:

“Tôi chỉ về theo đường của mình. Tôi chưa từng đi tới căn hộ của cô.”

Ông nhìn thêm một lần như muốn chắc mình đã trả lời đủ, rồi trả điện thoại. Người phụ nữ áo xám chờ ở cạnh rèm, không chạm vào ông.

Cô lấy trong ba lô một mẩu băng dính, rồi viết cho ông:

“Tôi muốn đánh dấu cuốn sổ của ông. Nếu gặp lại ông ở nơi khác, tôi sẽ nhận ra nó. Ông có đồng ý không?”

Ông gật đầu, đặt cuốn sổ trên đệm. Cô gấp một góc mẩu băng dính để làm mấu dễ bóc, rồi vẽ ba chấm lên mặt ngoài làm dấu nhận biết. Ông nhận lấy và dán nó lên bìa sổ, ngay dưới đường chỉ khâu.

Người phụ nữ đeo đồng hồ nhìn thấy. Cô đưa bút cho chị, nhờ chị vẽ thêm một nét cạnh ba chấm. Chị vẽ một đường cong ngắn, rồi chỉ vào lời người đàn ông vừa viết: ông sẽ hỏi tin về chị gái của chị.

Người đàn ông giơ cuốn sổ để cả hai nhìn rõ. Sau đó ông đeo túi vải, đi theo người phụ nữ áo xám qua cửa.

Tấm rèm khép lại.

Cô chờ một lúc. Phía sau lớp vải không còn thấy bóng người. Quanh cô, mọi người bắt đầu thu giấy; có người đưa cho nhau đọc, có người gấp lại bỏ túi.

Người điều hành đặt chiếc bình trắng lên bàn. Tờ giấy của cô vẫn nằm riêng trên khay, ngay dưới bàn tay họ.

Anh nhìn theo hướng cô nhìn, rồi viết:

“Cô muốn lấy lại tờ giấy đó?”

Cô gật đầu.

“Tôi muốn biết họ giữ nó để làm gì.”

Anh đứng lên cùng cô. Khi họ tới gần bàn, người điều hành phủ một tấm vải lên chiếc khay. Cô đưa điện thoại cho họ xem câu hỏi. Người ấy đọc, viết lên bảng:

“Lời đã gửi được giữ tại đây để người cầu nguyện còn có đường trở lại.”

“Tôi có thể xem lại không?”

Người điều hành nhìn tấm vải rồi lắc đầu.

“Khi chúng tôi nhận xong lời nguyện của mọi người, cô có thể xem lại.”

Cô muốn hỏi khi nào họ mới nhận xong lời nguyện, nhưng người phụ nữ áo xám đã bước ra từ sau rèm. Bà chỉ về phía sân. Trên bảng bà cầm có một dòng mới: **Người đã gửi lời có thể nghỉ tại hiên phía đông.**

Cô nhìn lại chiếc khay trước khi đi. Tấm vải che kín những tờ giấy, chỉ còn thấy mép khay màu tối. Cô đã ghi lại lời nguyện trong sổ, nhưng tờ giấy có nét sáng ấy vẫn ở phía bên kia bàn.

Ngoài sân, ngọn đèn gần cổng vẫn sáng. Người đàn ông châm đèn đã đi đâu; chiếc que dài được đặt sát chân tường. Những người vừa qua buổi cầu nguyện tìm ghế ngồi, có người mở túi lấy thức ăn. Người phụ nữ đeo đồng hồ nứt ngồi xuống cùng cô ở một đầu ghế.

Chị lấy tờ giấy ghi lời hẹn ra, đặt cạnh sổ của cô.

“Ông ấy nói sẽ hỏi về chị tôi. Tôi không biết ông ấy có tìm được không.”

Cô nhìn nét chữ nghiêng của người đàn ông. Ở cuối trang, chị đã ghi thêm nơi được hẹn tới hỏi hồ sơ. Cô vừa định hỏi địa chỉ ấy ở đâu thì thấy một người đi qua cổng.

Là người đàn ông áo nâu đó sao?

Ông vẫn mặc chiếc áo ấy, túi vải đeo trên vai. Tóc và vai áo còn ướt. Người phụ nữ áo xám đưa ông một chiếc khăn gấp, rồi chỉ về phía bàn ghi như lần trước.

Cô đứng lên. Người phụ nữ trẻ cũng nắm lấy tờ giấy, bước theo cô.

Người đàn ông nhìn hai người đến gần. Ông dừng lại, bàn tay giữ quai túi, vẻ mặt không có nét vui mừng như khi vừa được gọi. Cô chỉ vào cuốn sổ ông đang cầm.

Mẩu băng dính vẫn ở dưới đường chỉ khâu. Ba chấm và nét cong còn nguyên.

Cô mở trang sổ của mình, đưa ông xem.

“Vừa rồi ông đi qua cửa trong phòng. Ông đã gặp người nào ở phía ngoài chưa?”

Ông đọc. Bàn tay giữ cuốn sổ siết lại, khiến phần bìa mềm hơi cong. Ông lấy bút viết:

“Tôi vừa lên bờ hồ. Trước đó tôi ở nhà. Tôi không nhớ đã gặp hai người.”

Người phụ nữ đeo đồng hồ chìa tờ giấy có lời hẹn. Ông nhận lấy. Ông nhìn nét chữ rất lâu, đặt đầu ngón tay lên chữ cuối cùng.

“Chữ này giống chữ tôi.”

Ông lật mặt sau, rồi nhìn cuốn sổ trong tay. Khi thấy mẩu băng dính, ông định bóc mấu lên, nhưng cô đưa tay ra hiệu chờ.

“Ông đã dán nó vào đây trước khi đi qua cửa. Tôi vẽ ba chấm, còn chị ấy vẽ nét cong. Ông có nhớ không?”

Ông nhìn ba chấm, nhìn người phụ nữ trẻ, rồi lắc đầu. Ông tiếp tục lật cuốn sổ, tìm giữa những trang giấy như thể chính mình cũng muốn nhận ra điều gì.

Ở trang cuối có một tờ giấy gập tư. Ông mở ra, đưa cho họ xem. Đó là bản sao một lịch làm việc, phía trên ghi tên cửa hàng và mấy ngày liên tiếp. Một ô được đánh dấu bằng nét bút xanh. Bên dưới là mảnh giấy nhỏ có dòng xác nhận ông đã nhận ca vào ngày ấy.

Cô nhìn ngày được ghi. Nó trùng với ngày trên một tờ thông báo treo trong sân, nhưng cô không biết giờ ở cửa hàng có thể so trực tiếp với thời gian nơi đây hay không. Ông viết rằng mình nhận tờ giấy sau khi rời ca và nhớ đã làm công việc đó.

Người phụ nữ trẻ lấy tờ giấy ghi lời hẹn. Ở góc giấy, cô đã ghi lại rằng ngọn đèn cuối cùng sáng trước khi họ vào phòng cầu nguyện. Chị chỉ vào dòng ấy, rồi chỉ sang tờ nhận ca. Hai mốc ấy chưa đủ để biết những việc ngoài cửa hàng và ở đây đã xảy ra cùng lúc hay không.

Người đàn ông viết:

“Tôi nhớ đã ở cửa hàng. Tôi cũng nhớ mình vừa xuống nước. Giữa hai việc ấy, tôi không nhớ gặp cô.”

Cô nhìn ba chấm trên mẩu băng dính dán ở bìa sổ. Chúng không cho biết ông đã tới cửa hàng lúc nào. Nhưng cô và người phụ nữ trẻ đã nhìn ông dán mẩu băng dính ấy trước khi đi qua rèm. Bây giờ nó vẫn còn trên bìa sổ, còn ông thì không nhớ.

Ông kéo tay áo để tìm chiếc đồng hồ. Phía trong cổ tay có một dấu cong mờ, đúng chỗ đường sáng đã hiện lên. Ông sững lại, miết ngón tay qua nó.

Người phụ nữ áo xám bước tới. Bà viết trên bảng:

“Dấu che chở còn nguyên. Ông có thể chờ người điều hành gọi.”

Người đàn ông nhìn dấu trên tay, rồi nhìn tấm bảng. Ông chưa vội đi theo bà. Ông ra hiệu xin lại tờ giấy ghi lời hẹn, rồi viết thêm một câu bên dưới:

“Nếu đây là lời tôi đã hứa, tôi sẽ hỏi lại khi có thể.”

Chị đọc xong, giữ tờ giấy trong hai tay. Chị muốn tin ông, cô nhìn thấy điều đó ở cách chị vuốt thẳng mép giấy. Nhưng chị vẫn viết:

“Tôi sẽ ghi cả lúc ông không nhớ, để lần sau chúng ta có thể so lại.”

Ông gật đầu. Ông không nhận là đã hỏi về chị gái, cũng không hứa một kết quả. Bà áo xám chờ đến khi hai người viết xong mới đưa ông tới bàn ghi.

Cô nhìn theo. Nếu ông đã trở về cửa hàng, vì sao ông lại lên bờ hồ lần nữa? Nếu ông chưa từng rời nơi này, tờ xác nhận trong túi được mang tới bằng cách nào?

Anh đặt tay lên mép ghế, chờ cô nhìn sang. Trên điện thoại anh có một dòng:

“Ở phía ngoài buổi cầu nguyện có người giữ những lời chứng về các lần trở lại. Tôi từng được cho biết về nơi đó, nhưng chưa tự xem.”

Cô đọc, rồi nhìn người đàn ông đang cúi trước cuốn sổ lớn. Ông vẫn giữ mẩu băng dính trên bìa sổ, nhưng không nhớ ai đã đưa.

Cô đóng sổ của mình.

“Chúng ta tìm người ấy nhé.”

Lời tác giả chương này:

Giữa những điều đã mất, vẫn có người muốn lần theo một dấu vết nhỏ để tìm ai đó. Cảm ơn bạn đã đọc đến đây và cùng Mây Lam tiếp tục hành trình. — Yên Vũ
0
Ủng hộ tác giả tim thu Góc tiếp sức: Nếu bạn thấy công sức mình dành cho bộ truyện này xứng đáng để bạn bỏ ra thời gi...