Chương 14: Lời Kể Của Kẻ Hành Hương
Thần Dụ
Mục lục
15 chươngCuộn, vuốt hoặc dùng hai nút để xem thêm Đã tải 15/15 chương
Người đàn ông áo nâu đã đi theo người phụ nữ áo xám tới bàn ghi. Lần này, ông vẫn giữ mẩu băng dính trên bìa sổ, nhưng không nhớ đã dán nó từ bao giờ.
Người phụ nữ đeo đồng hồ nứt nhìn theo cho tới khi ông ngồi xuống. Chị cất lời hẹn vào một phong bì nhỏ, trên góc giấy đã chép lại ba chấm và đường cong làm dấu. Bên dưới là dòng ghi chú: ông trở lại từ phía hồ, không nhớ cuộc gặp.
Mây Lam chụp lại tờ giấy, rồi chỉ vào địa chỉ nơi chị được hẹn xem hồ sơ về chị gái. Cô viết: “Chị có muốn chúng tôi đi cùng không?”
Chị cầm điện thoại, viết: “Tôi muốn gặp người ở đây trước. Nếu ông ấy hỏi được tin, họ có thể chuyển cho tôi.”
Chiếc khay phủ vải trong phòng cầu nguyện hiện lên trong đầu Mây Lam. Những người ở đây vẫn giữ lời nguyện của cô, còn người đàn ông vừa hứa giúp chị thì đã quên cuộc gặp. Vậy mà chị vẫn muốn chờ.
Nhưng trên tờ giấy là nét bút chị đã cẩn thận ghi thêm. Chị biết ông có thể không nhớ. Mây Lam chưa có bằng chứng để bảo chị đừng tin họ.
Cô viết: “Nếu gặp lại, chúng ta cho nhau xem những gì đã tìm được nhé.” Bên dưới, cô ghi thêm địa chỉ chị định tới rồi giơ cuốn sổ lên. Người phụ nữ đọc, gật đầu và cất phong bì vào túi áo.
Nam Phong chờ dưới mái hiên. Anh từng nghe nói phía sau dãy nhà có người giữ lời kể của những người trở lại. Mây Lam đi cùng anh qua hàng đèn, vòng sang một khoảng vườn nhỏ. Dưới mái che, hộp giấy và những tập sổ được xếp kín mấy chiếc giá gỗ.
Người trông coi đang sửa gáy một cuốn sổ. Thấy khách, họ đặt kim xuống và phủ khăn lên những tờ giấy rời. Nam Phong viết câu hỏi về lời kể của những người từng trở lại qua hồ.
Một hộp thẻ được đưa ra. Mỗi tấm ghi một cuộc gặp hoặc một dấu nhận biết; có chuyện do người trong cuộc kể, có chuyện được người khác chứng kiến một phần. Người giữ sổ viết thêm: “Không phải chuyện nào chúng tôi cũng đã kiểm chứng.”
Mây Lam nghĩ đến người đàn ông áo nâu. Dấu trên cuốn sổ của ông vẫn còn, nhưng nếu muốn để lại tên và câu chuyện của ông cùng người phụ nữ trẻ, cô cần hỏi họ trước.
Nam Phong lấy một tập giấy cuộn ở mép giá. Bên ngoài có hình chiếc bình và một đường cong bạc. Người giữ sổ nhận ra tập ấy, gật đầu cho anh mở.
Những tờ giấy bên trong không cùng cỡ. Vài trang được chép lại bằng nét mực khác nhau, vài chỗ để trống. Một ghi chú ở góc trang cho biết đây là lời của một kẻ hành hương, nhưng không có tên người kể.
Mây Lam cúi xuống đọc.
Người ấy xưng là “ta”, kể về một đại dương nước mắt, ánh bạc và một chiếc bình rỗng. Trong lời kể, nỗi đau của người cầu nguyện được làm dịu, còn chiếc bình tiếp nhận điều họ gửi tới. Không có dòng nào nói ai đã đặt chiếc bình hay mang nó đi đâu.
Ngón tay Mây Lam dừng lại trên hình vẽ. Vai người đàn ông áo nâu đã thả lỏng khi ánh sáng chạm vào lời nguyện. Người phụ nữ đeo đồng hồ cũng nói nhờ buổi cầu nguyện mà chị bớt sợ, có thể tiếp tục tìm tin về chị gái. Sự nhẹ nhõm của họ là thật. Nhưng chiếc bình đã nhận thứ gì?
Một tờ khác được kẹp sau trang người hành hương. Nét chữ trên đó nhỏ và đều hơn:
“Con tôi bị bệnh đã lâu. Mỗi lần thấy con khó thở, tôi lại sợ nó sẽ chết.
“Sau buổi cầu nguyện, tôi bình tĩnh hơn. Tôi có thể chăm con mà không còn run tay. Lúc đầu, tôi nghĩ đó là điều tốt.
“Nhưng một hôm, con nắm tay tôi và hỏi mẹ còn thương con không.
“Tôi vẫn nhớ mình yêu con. Vậy mà khi ôm nó, tôi không còn thấy gần gũi như trước. Tôi sợ buổi cầu nguyện đã lấy đi nhiều hơn nỗi sợ của mình.”
Mây Lam đọc lại từ đầu. Người viết chỉ nói điều mình sợ, không giải thích vì sao cảm giác ấy thay đổi. Nhưng sau buổi lễ, chính cô cũng thấy lòng mình khác đi.
Điện thoại vẫn không có tin nhắn mới. Mây Lam kéo lên tấm ảnh mẹ gửi: hộp canh ở ngăn dưới, cạnh phần cơm được chia riêng. Cô nhớ buổi chiều đứng ở cửa tiễn bố mẹ, nhớ mình đã hứa sẽ ăn tối đàng hoàng.
Khi tỉnh giấc, chỉ một lời dặn của mẹ cũng đủ khiến căn phòng bớt lạnh lẽo. Bây giờ Mây Lam vẫn muốn về gặp bố mẹ. Vậy mà lúc cố gọi lại cảm giác ấm áp ấy, cô chỉ thấy nó trở về rất khẽ.
Là vì quá mệt, hay vì chiếc bình?
Mây Lam đưa Nam Phong xem tờ giấy. Anh đọc hết, nhưng không viết ngay. Trong lúc chờ, cô gõ câu hỏi cho người giữ sổ: “Người viết những dòng này đang ở đâu?”
Họ lật mặt sau, tìm ký hiệu gần mép giấy rồi viết: “Tờ này được kẹp cùng tập giấy mang đến từ phía tây. Tôi chưa gặp người viết, cũng chưa biết chuyện ấy có liên quan đến buổi cầu nguyện thế nào.”
Một lời kể chưa đủ để biết chiếc bình đã làm gì. Người viết có thể biết thêm, nhưng ngay cả tên họ cũng không được ghi lại.
Nam Phong chỉ xuống cuối trang người hành hương. Một dòng chữ nhỏ nằm cạnh vết sửa: người kể đã tỉnh, và ánh trăng không còn ghé tới.
Mây Lam chưa biết “đã tỉnh” nghĩa là người ấy trở về cơ thể hay chỉ rời khỏi nơi cầu nguyện. Cô chụp lại hai trang, rồi hỏi người giữ sổ có biết ai mang tập giấy tới không.
“Người mang tập giấy tới đã để lại một ký hiệu, nhưng không để tên. Ký hiệu ấy có trong sổ đường đi.”
Cuốn sổ mỏng được lấy từ hộp dưới cùng. Gần cuối có hình một đường gấp khúc, cạnh đó là hai chấm và một nét ngắn. Người mang tập giấy tới còn ghi về một cánh cửa phía tây, nhưng không ghi tiếp đường đi sau cánh cửa ấy. Người giữ sổ chưa từng đi qua đó.
Mây Lam vừa cúi xuống định chép ký hiệu trong sổ thì người phụ nữ áo xám mang một khay nước tới. Bà đưa cho cô mảnh giấy: “Người điều hành hỏi hai người có cần thêm khăn khô không.”
Áo Nam Phong đã bớt ướt, nhưng cổ tay anh vẫn lạnh khi chạm vào tay cô lúc nhận cuốn sổ. Mây Lam gật đầu. Đợi bà đặt khăn xuống, cô đưa bà xem dòng chữ về người hành hương.
“Người viết nói ánh trăng không còn ghé nữa. Điều đó có nghĩa người ấy đã về nhà không?”
Người phụ nữ đọc khá lâu rồi viết: “Tôi không biết người ấy đã về đâu. Khi cần, tôi tới buổi cầu nguyện và thấy mình có thể tiếp tục làm việc.”
Bà kéo tay áo, để lộ một dấu cong rất nhạt trên cổ tay, rồi viết tiếp: “Trước đây, có lúc tôi hoảng đến mức không chăm nổi người nhà. Sau buổi cầu nguyện đầu tiên, tôi bình tĩnh hơn và có thể quay lại.”
Mây Lam nhìn dấu trên tay bà. Câu trả lời không cho cô biết người hành hương ở đâu, nhưng bà đã nói điều mình trải qua. Cô muốn hỏi người nhà bà bây giờ thế nào, song người phụ nữ chỉ vào cốc nước rồi mang khay trở vào trong.
Trên bàn, tờ giấy về người mẹ vẫn mở. Người phụ nữ đeo đồng hồ cũng từng cầu nguyện vì lo cho chị gái. Nếu buổi lễ có thể lấy đi nhiều hơn nỗi sợ, chị cần được đọc lời kể này trước khi quyết định có quay lại hay không.
Mây Lam hỏi người giữ sổ liệu mình có thể cho chị xem bản chép. Họ gật đầu nhưng nhắc cô đừng mang trang giấy đi. Cô chụp lại, để tập giấy trên bàn rồi cùng Nam Phong trở lại đầu lối vào vườn.
Người phụ nữ đeo đồng hồ vẫn ở gần bàn ghi. Thấy hai người, chị bước ra dưới hiên. Mây Lam mở bức ảnh, viết thêm bên dưới:
“Tôi đọc được lời kể này. Người ấy sợ buổi cầu nguyện đã làm tình cảm của mình với con thay đổi. Tôi chưa biết vì sao, nhưng nghĩ chị nên xem.”
Chị đọc từng dòng. Bàn tay giữ điện thoại khựng lại ở đoạn người con hỏi mẹ còn thương mình không. Một lúc sau, chị kéo tay áo che dấu cong trên cổ tay.
“Chuyện này xảy ra với ai? Người ấy còn gặp được con không?”
“Tôi chưa biết. Người giữ sổ nói tập giấy được mang đến từ phía tây. Chúng tôi định tìm người đã mang nó tới.”
Người phụ nữ nhìn về phía bàn ghi. Bên trong, người đàn ông áo nâu vẫn ngồi cùng cuốn sổ. Chị mở phong bì, kiểm lại địa chỉ rồi viết:
“Tôi vẫn muốn hỏi hồ sơ về chị tôi. Nhưng trước khi cầu nguyện lần nữa, tôi sẽ hỏi họ chuyện này.”
Mây Lam thấy nhẹ đi đôi chút. Chị đã đọc và tự quyết định điều mình muốn làm. Trước khi chia tay, hai người chép lại những điều vừa biết để lần gặp sau có thể đối chiếu.
Trở lại bàn dưới mái che, Mây Lam chép lại ký hiệu của người đã mang tập giấy tới: một đường gấp khúc, hai chấm và một nét ngắn. Cô ghi rõ ký hiệu này nằm trong sổ đường đi, khác với dấu đánh đường cô đã để lại ở hành lang.
Nam Phong nhìn ký hiệu rồi viết: “Cửa phía tây có thể dẫn ra khỏi khu này. Tôi biết một đoạn đường gần đó, nhưng chưa từng đi theo lối được ghi trong tập giấy.”
Cả Mây Lam lẫn Nam Phong đều chưa biết phía sau cánh cửa có gì. Người giữ sổ cũng không biết bản đầu của tập giấy ở đâu, hay người mang tập giấy tới đã đi tiếp bằng lối nào.
Mây Lam nhìn lại trang người hành hương. Ánh trăng không còn ghé tới là điều người ấy mong muốn, hay là một mất mát khác? Cô chưa thể biết. Người mang tập giấy tới đã nhắc tới cánh cửa phía tây; nếu tìm được ký hiệu của người ấy ở đó, cô có thể có thêm một đầu mối.
Cô đặt bản chép trước mặt Nam Phong.
“Chúng ta tìm cánh cửa ấy.”
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.