Đại Mộng-Tây Du Ký

Chương 22: Dâng Hương Lễ Phật, Bồ Tát Yết Kiến Thái Tông

Đăng: 07/11/2026 21:15 3,959 từ 3 lượt đọc
Lại nói, Uất Trì Cung phụng chỉ mang một kho vàng bạc đến phủ Khai Phong, tỉnh Hà Nam, tìm đến nhà Tưởng Lương để hoàn trả món nợ.


Nguyên người này vốn làm nghề bán hàng nước, thê tử là Trương thị bán chậu sành ở đầu phố.


Hai vợ chồng quanh năm buôn bán, kiếm được đồng nào chỉ giữ lại vừa đủ chi tiêu, còn dư bao nhiêu đều đem bố thí, cúng dường tăng nhân.


Ở dương gian, họ chỉ là những người nghèo túng, vậy mà dưới âm phủ lại trở thành bậc trưởng giả, sở hữu vô số vàng bạc châu báu.


Uất Trì Cung đem vàng bạc đến nhà, khiến Tưởng ông và Tưởng bà kinh hãi đến hồn bay phách lạc.


Quan viên bản phủ cũng đích thân tới chứng kiến, ngoài căn nhà tranh nhỏ bé bỗng chốc xe ngựa tấp nập, người ra kẻ vào không ngớt.


Hai vợ chồng già sợ hãi đến ngây người, vội quỳ rạp xuống đất, liên tục cúi đầu hành lễ.


Uất Trì Cung thấy vậy, liền nói:


"Mời hai vị đứng dậy! Tuy ta là khâm sai phụng mệnh triều đình, nhưng chuyến này chỉ vâng lệnh Hoàng đế, mang vàng bạc đến hoàn trả cho hai vị mà thôi."


Tưởng Lương run rẩy đáp:


"Vợ chồng chúng tôi nào có tiền bạc cho ai vay mượn, sao dám nhận những thứ tài vật không rõ lai lịch này?"


Uất Trì Cung giải thích:


"Ta cũng đã hỏi thăm, biết hai vị vốn là người nghèo khó, nhưng thường xuyên bố thí, cúng dường tăng nhân, đem phần tiền bạc dư dả giúp đỡ người khác. Chính nhờ công đức ấy mà dưới âm phủ, hai vị tích lũy được rất nhiều vàng bạc. Đường Thái Tông Hoàng đế từng băng hà ba ngày, sau đó được hoàn hồn trở về dương gian. Trong thời gian ở âm phủ, bệ hạ đã vay một kho vàng bạc của hai vị, nay sai ta mang đến hoàn trả đầy đủ. Hai vị cứ yên tâm nhận lấy, để ta còn trở về phục mệnh."


Hai vợ chồng Tưởng Lương nghe xong, chỉ biết ngước mặt lên trời vái lạy, nhất quyết không dám nhận, rồi nói:


"Nếu chúng tôi nhận lấy số vàng bạc này, e rằng chẳng bao lâu nữa sẽ phải đoản mệnh. Dẫu thế nào, vợ chồng chúng tôi cũng quyết không dám nhận!"


Uất Trì Cung lại khuyên:


"Nhà vua vay mượn vàng bạc của hai vị, đã có Thôi giám quan đứng ra bảo lãnh, chứng cứ rõ ràng. Hai vị cứ nhận lấy, không cần phải lo lắng."


Tưởng Lương vẫn kiên quyết từ chối:"Dẫu có phải mất mạng, chúng tôi cũng không dám nhận số vàng bạc này!"


Uất Trì Cung thấy hai vợ chồng nhất quyết không chịu tiếp nhận, đành viết sớ trình bày sự việc, sai người mang về triều tâu báo.


Thái Tông xem xong tấu sớ, biết Tưởng Lương không chịu nhận lại vàng bạc, liền cảm khái:


Quả là một bậc trưởng giả lương thiện!"


Nhà vua lập tức truyền chỉ, sai Hồ Kính Đức dùng số vàng bạc ấy xây dựng một ngôi chùa, dựng thêm một tòa sinh từ, thỉnh tăng nhân đến tụng kinh cầu phúc, xem như đã hoàn trả món nợ cho Tưởng Lương.


Nhận được thánh chỉ, Hồ Kính Đức hướng về cửa khuyết bái tạ, sau đó tuyên đọc chỉ dụ cho mọi người cùng biết.


Ông liền đem vàng bạc mua một khu đất rộng rãi, phong thủy tốt trong thành, chu vi ước chừng năm mươi mẫu, rồi khởi công xây dựng chùa chiền.


Ngôi chùa được đặt tên là Tướng Quốc Tự.


Bên trái chùa dựng sinh từ thờ Tưởng Lương và Tưởng phu nhân, lại lập bia đá, khắc rõ dòng chữ:


"Uất Trì Cung phụng chỉ đốc công xây dựng."


Sau khi công trình hoàn thành, Uất Trì Cung trở về triều đình, đem mọi việc tâu lại.


Thái Tông nghe xong vô cùng hoan hỷ, liền triệu tập bá quan văn võ, ban bố chiếu chỉ tuyển chọn cao tăng đại đức trong thiên hạ, chuẩn bị khai đàn Thủy Lục Đại Hội, siêu độ các cô hồn nơi âm phủ.


Chiếu thư được truyền đi khắp các châu quận, lệnh cho quan viên địa phương tuyển chọn những vị cao tăng đức hạnh, mời về Trường An tham dự đại hội.


Chỉ trong vòng một tháng, tăng ni khắp thiên hạ đã lần lượt kéo về, tụ hội đông đủ tại kinh thành.


Đường Thái Tông lại truyền chỉ, sai quan Thái Thường Tự Phó Dịch tuyển chọn cao tăng, chỉnh đốn mọi việc liên quan đến Phật sự.


Nào ngờ, Phó Dịch vừa tiếp chỉ, lập tức dâng sớ can gián, cực lực phản đối việc sùng phụng Phật giáo, cho rằng Phật vốn không tồn tại.


"Cái đạo của nước Tây Vực không có vua tôi, cha con, chỉ dùng ba đường sáu đạo để lừa gạt những kẻ ngu muội. Chúng truy xét tội lỗi đã qua, dò xét phúc họa sắp đến, miệng tụng tiếng Phạn, cốt mong trốn tránh thuế khóa của triều đình."


"Huống hồ, sống chết thọ yểu vốn là lẽ tự nhiên hình phạt, ân đức, uy quyền và phúc trạch đều do đức của quân vương mà ra. Nay nghe thấy đám người thô tục kia, chuyện gì cũng đổ cho Phật. Từ Ngũ Đế đến Tam Vương, vốn chưa từng có đạo Phật."


"Vua sáng tôi trung thì xã tắc mới được lâu bền. Đến đời Hán Minh Đế mới bắt đầu tôn sùng người Hồ. Nhưng đạo Phật ấy chẳng qua chỉ do đám tăng lữ Tây Vực tự truyền bá sang mà thôi. Thật là giống mọi rợ xâm phạm Trung Hoa, chẳng đáng để tin theo hay phụng thờ!"


Thái Tông xem xong tờ biểu, liền ném xuống cho bá quan cùng bàn bạc. Bấy giờ, quan Tể tướng Tiêu Vũ bước ra tâu rằng:


"Phật pháp đã lưu truyền qua nhiều triều đại, khuyên người làm lành, ngăn kẻ làm ác, âm thầm phù trợ quốc gia. Xét về đạo lý, không thể tùy tiện phế bỏ. Phật vốn là bậc thánh nhân, còn kẻ phỉ báng thánh nhân, làm trái phép tắc thì phải nghiêm trị. Xin bệ hạ minh xét!"


Phó Dịch lập tức tranh luận với Tiêu Vũ, nói rằng lễ nghĩa lấy việc thờ vua, kính cha làm gốc.


Phật gia lại chủ trương xuất gia, bỏ mặc cha mẹ, lấy kẻ thất phu mà chống lại thiên tử, dùng thân mình mà phụ bạc song thân.


Ông ta còn mỉa mai:


"Chẳng lẽ Tiêu công chui từ lỗ nẻ ra nên mới tin theo cái đạo không có cha mẹ ấy? Quả thật, những kẻ bất hiếu thì chẳng biết trên đời này còn có phụ mẫu!"


Tiêu Vũ chỉ chắp tay, điềm nhiên đáp:

"Địa ngục nơi âm ty, chính là để dành cho những hạng người như vậy."


Thái Tông truyền gọi quan Thái Bộc Khanh Trương Đạo Nguyên và quan Trung Thư Lệnh Trương Sĩ Hành vào điện, hỏi về việc thờ Phật cầu phúc cùng đạo lý nhân quả báo ứng.


Hai người đồng loạt tâu rằng:


"Thờ Phật cốt để giữ lòng thanh tịnh, lấy nhân từ làm gốc, còn đạo lý nhân quả thì vốn có lẽ chính đáng. Phật pháp chẳng phải điều hư không. Vua Vũ Đế nhà Chu từng phân định thứ bậc của Tam giáo. Đức Đại Tuệ Thiền Sư có tài xiển dương những điều u vi, huyền diệu, chúng sinh thành tâm cúng dường, ắt đều có cảm ứng linh nghiệm."


"Năm vị Tổ Sư từng chuyển thế đầu thai, đức Đạt Ma cũng từng hiển lộ chân tướng. Từ xưa đến nay, Tam giáo đều có đạo lý riêng, đáng được tôn kính, không nên phỉ báng, cũng chẳng thể tùy tiện phế bỏ. Cúi xin bệ hạ thánh minh, xét đoán tường tận!"


Thái Tông nghe xong, hết sức vui mừng, liền phán:"Khanh nói rất có lý. Từ nay, kẻ nào còn dám can gián việc này, ắt sẽ bị luận tội!"


Nói đoạn, nhà vua sai Ngụy Trưng, Tiêu Vũ và Trương Đạo Nguyên đứng ra lo liệu việc thỉnh chư Phật, tuyển chọn một vị đại đức cao tăng làm chủ trì, thiết lập đàn tràng, tổ chức pháp hội trai đàn. Triều thần đều cúi đầu tạ ơn, lần lượt lui ra.


Từ đó, triều đình ban hành pháp lệnh: Kẻ nào nhạo báng tăng nhân, phỉ báng Phật pháp, sẽ bị khép vào trọng tội, xử phạt chặt tay.


Hôm sau, ba vị triều thần triệu tập các tăng nhân tại đàn Sơn Xuyên, lần lượt khảo xét, hỏi han từng người.


Sau cùng, họ tuyển chọn được một vị cao tăng đức hạnh vẹn toàn.


Thông tích nguyên danh Kim Thiền Tử,

Chỉ nhân sơ suất thất chân ngôn Như Lai.

Phàm trần thọ nạn tao tai,

Giáng sinh tục thế, trần ai muôn trùng.

Còn trong bào thai đã chịu gian truân,

Vừa ra thế tục, nếm đủ phong trần.

Phụ thân Trần thị, Trạng Nguyên,

Ngoại công triều nội, chức quyền trọng thần.

Xuất thân đã phải ly thân,

Trôi theo sóng nước, phù trầm Trường Giang.

Kim Sơn tự có cao tăng,

Thiện An Hòa Thượng dẫn đường cứu sinh.

Mười tám tuổi gặp mẫu thân,

Hồi kinh thỉnh binh, báo cừu phụ thân.

Khai Sơn Thừa Tướng định mưu,

Hồng Châu tiễu phỉ, nghịch đồ tận vong.

Trạng Nguyên Quang Nhị thoát vòng,

Phụ tử tương kiến, phu thê đoàn viên.

Ân vua lộc nước lâu bền,

Lăng Yên Các thượng lưu danh hiền thần.

Nào ngờ chẳng luyến quan thân,

Quy y tu hành, đoạn trần xuất gia.

Hồng Phúc tự viện chuyên cần,

Nhất tâm hướng Phật, quy chân sa môn.

Giang Lưu vốn dòng Thế Tôn,

Pháp danh Huyền Trang lưu truyền đến nay.


Hôm ấy, Huyền Trang pháp sư được tiến cử ra trước mặt chư tăng.


Pháp sư xuất gia từ thuở nhỏ, vừa lọt lòng mẹ đã ăn chay, thụ giới.


Ông ngoại là Ân Khai Sơn, giữ chức quan Tổng quản một lộ dưới triều ấy.


Cha ruột là Trần Quang Nhị, từng đỗ Trạng nguyên, làm quan Văn Uyên Điện Đại Học Sĩ.


Tuy xuất thân danh gia vọng tộc, trong lòng ông lại chẳng màng vinh hoa phú quý, chỉ một lòng hướng Phật, chuyên tâm tu trì.


Xét về gia thế, ông thuộc dòng dõi trâm anh; luận về đức hạnh, lại là người thanh cao, đoan chính.


Nghìn kinh muôn điển, không sách nào ông chưa từng đọc, tiếng Phật, nhạc tiên, không điều gì ông chẳng am tường.


Bấy giờ, ba vị đại thần dẫn Huyền Trang đến trước ngự tiền, cúi đầu tâu rằng:


"Chúng thần Tiêu Vũ phụng thánh chỉ tuyển chọn, nay đã tìm được một vị cao tăng, pháp danh Trần Huyền Trang."


Thái Tông nghe đến cái tên ấy, trầm ngâm hồi lâu rồi hỏi:


"Có phải Huyền Trang chính là con trai của quan Học sĩ Trần Quang Nhị chăng?"


Giang Lưu cúi đầu đáp:"Khởi bẩm bệ hạ, chính là thần."


Thái Tông nghe vậy, vui mừng phán:


"Quả nhiên tuyển chọn không sai! Đúng là một vị cao tăng có đạo đức, có thiền tâm. Nay trẫm phong cho khanh chức Tả Tăng Cương, Hữu Tăng Cương, Thiên Hạ Đại Xiển Độ Tăng Cương."


Huyền Trang cúi đầu tạ ơn, nhận lấy chức vị Đại Xiển Độ Tăng Cương.


Nhà vua lại ban cho ông một chiếc áo cà sa thêu ngũ sắc, viền giáp vàng, cùng một chiếc mũ Tỳ Lư.


Đồng thời căn dặn ông phải tận tâm cung thỉnh các bậc minh tăng, sắp xếp thứ bậc tăng chúng, rồi soạn thảo ý chỉ để ban hành.


Trước tiên, hãy đến chùa Hóa Sinh chuẩn bị mọi việc, chọn ngày lành tháng tốt mà khai đàn giảng kinh.


Huyền Trang lễ tạ, lĩnh chỉ lui ra, lập tức đến chùa Hóa Sinh, triệu tập chư tăng, cho sửa sang giường phản, chỉnh đốn công đức, tu bổ nhạc lễ.


Sau đó, ông tuyển chọn được một nghìn hai trăm vị minh tăng, từ bậc cao đến bậc thấp, chia thành ba ban: thượng, trung và hạ.


Các pháp khí, vật phẩm thờ Phật cũng được chuẩn bị đầy đủ, mọi việc đều đâu vào đấy.


Ông lại định ngày mồng ba tháng chín, đúng giờ hoàng đạo, chính thức khai đàn Thủy Lục Đại Hội, mở pháp hội trai đàn trong bảy bảy bốn mươi chín ngày.


Sau khi mọi việc đã được sắp đặt chu toàn, Huyền Trang dâng biểu tâu lên triều đình.


Thái Tông cùng bá quan văn võ, quốc thích hoàng thân đều nhận lời, đúng hẹn đến dự pháp hội, dâng hương lễ Phật.


Năm Trinh Quán thứ mười ba, tức năm Kỷ Tỵ, ngày mồng ba tháng chín, Giáp Tuất, đúng vào giờ Quý Mão hoàng đạo.


Đại Xiển Pháp Sư Trần Huyền Trang triệu tập một nghìn hai trăm vị cao tăng, khai diễn các bộ kinh Phật tại chùa Hóa Sinh, trong thành Trường An.


Sáng hôm ấy, sau khi thiết triều, Đường Thái Tông dẫn theo bá quan văn võ, ngự trên long xa phượng liễn, rời điện Kim Loan, thẳng tiến đến chùa Hóa Sinh hành lễ.


Loan giá nhà vua đi đến đâu, cảnh tượng nơi ấy cũng vô cùng uy nghi, rực rỡ. Quả thật là:


Một trời mây gấm, muôn đạo hào quang. Gió nhân đức nhẹ nhàng phiêu đãng, thiên tượng sáng rỡ khác thường.


Trăm quan áo mũ chỉnh tề theo hầu loan giá, nghìn đội cờ mao nghiêm chỉnh đứng dọc hai bên đường.


Kẻ vác phủ việt, người cầm kim qua, ai nấy đều oai phong lẫm liệt; người nâng lò hương, kẻ bưng nến ngọc, tướng mạo đường đường.


Phượng múa, rồng bay, công trống dâng vũ; vua thánh minh chính trực, tôi trung nghĩa tín thành.


Phúc thọ nghìn thu vượt Thuấn Vũ, thái bình muôn thuở hơn Nghiêu Thang. Lại thấy phượng phục, long bào rực rỡ sắc đỏ tía, ngọc bội, vòng vàng lấp lánh ánh xanh vàng. Mũ rồng uy nghi, đai phượng huy hoàng.


Xa giá Đường Thái Tông vừa đến cửa chùa, nhà vua liền truyền lệnh tạm ngừng âm nhạc.


Sau đó, ngài xuống xe, dẫn bá quan vào chùa dâng hương lễ Phật, đi quanh đàn tràng ba vòng rồi ngẩng đầu quan sát.


Quả nhiên, đàn tràng được bày biện vô cùng trang nghiêm, thanh tịnh và tráng lệ. Cảnh tượng ấy thật là:


Tràng phan phấp phới, sắc xanh đỏ tung bay giữa không trung, bảo cái huy hoàng, bóng tím vàng rợp khắp trước đàn.


Thế Tôn tướng mạo trang nghiêm, La Hán dung nghi lẫm liệt. Trên bảo sát, cờ hoa tiên rực rỡ, cây gấm điểm tô, trong lò trầm, đàn hương nghi ngút, khói thơm cuồn cuộn bay tận trời xanh.


Hoa quả tươi mới chất đầy mâm, bánh trái kỳ lạ bày kín án. Chư vị cao tăng ngồi khắp pháp đàn, đồng thanh tụng niệm chân kinh, phổ độ cô hồn, cứu vớt chúng sinh khỏi cảnh khổ nạn.


Thái Tông cùng bá quan văn võ lần lượt dâng hương trước Phật Tổ, thành kính lễ bái chư vị La Hán.


Đúng lúc ấy, Đại Xiển Độ Tăng Cương Trần Huyền Trang pháp sư dẫn chư tăng tiến lên, cung kính bái kiến Đường Thái Tông.


Sau khi hành lễ xong, mọi người lần lượt lui sang hai bên, xếp thành hai hàng ngay ngắn.


Thái Tông hành lễ xong, trong lòng vô cùng vui vẻ, liền nói với chư tăng:


"Các khanh hãy giữ vững lòng thành, chuyên tâm tu trì, chớ nên lơ là việc Phật. Đợi đến khi công thành viên mãn, tất cả đều được hưởng phúc lành. Khi ấy, trẫm nhất định sẽ luận công ban thưởng, quyết không để công sức của các khanh phải uổng phí."


Một nghìn hai trăm vị cao tăng đồng loạt cúi đầu tạ ơn.


Hôm ấy, sau khi dùng xong ba bữa cơm chay, Đường Thái Tông liền hồi cung, hẹn đến ngày chính hội, tức bảy hôm sau, sẽ lại ngự giá đến chùa hành lễ.


Bấy giờ, trời đã ngả về chiều, bá quan văn võ lần lượt cáo lui.


Sáng hôm sau, Huyền Trang pháp sư lại lên đàn, triệu tập chư tăng, tiếp tục lễ Phật giảng kinh.


Lại nói, Quan Thế Âm Bồ Tát ở Nam Hải Phổ Đà Sơn, từ khi phụng mệnh Như Lai đến Trường An tìm người đi thỉnh kinh, đã trải qua một thời gian dài mà vẫn chưa gặp được người thật sự có đức hạnh.


Chợt nghe tin Đường Thái Tông tuyên dương thiện quả, tuyển chọn cao tăng, khai mở đại pháp hội.


Lại nghe nói vị pháp sư chủ trì pháp hội tên là Giang Lưu Nhi, vốn là đệ tử nhà Phật từ cõi Cực Lạc giáng trần, cũng chính là vị tăng nhân mà Bồ Tát đã đưa đi đầu thai năm xưa.


Nghe được tin ấy, Bồ Tát vô cùng hoan hỷ, liền mang theo những bảo vật Như Lai đã giao phó giả làm người bán hàng.


Bấy giờ, trong thành Trường An có một số tăng nhân tầm thường, vì không được tuyển chọn vào pháp hội nên trong lòng bất mãn.


Bọn họ vốn chẳng có bao nhiêu tiền bạc, vừa trông thấy Bồ Tát hóa thành một vị tăng nhân già nua, dung mạo tiều tụy, mình mặc áo quần rách rưới, chân không giày dép, đầu không đội mũ, tay lại nâng một tấm cà sa rực rỡ hào quang, liền kéo đến hỏi:


"Nhà sư rách rưới kia, tấm áo cà sa của ông định bán bao nhiêu tiền?"


Bồ Tát đáp:"Áo cà sa giá năm nghìn lượng vàng, cây tích trượng giá hai nghìn lượng."


Đám tăng nhân kia nghe vậy, liền cười nhạo:


"Lão hòa thượng rách rưới này chắc đã phát điên rồi! Hai món đồ tầm thường như thế mà dám đòi đến mấy nghìn lượng vàng? Cho dù mặc vào có thể trẻ mãi không già, thành tiên thành Phật, e rằng cũng chẳng đáng giá ngần ấy tiền! Mau mang đi nơi khác, chẳng ai mua đâu!"


Bồ Tát chẳng buồn đáp lời, tiếp tục đi về phía trước.


Đi được một đoạn, hai người đến trước cửa Đông Hoa, vừa hay gặp quan Tể tướng Tiêu Vũ đang trên đường bãi triều trở về, phía trước có quân lính dẹp đường.


Bồ Tát vẫn ung dung bước đi, chẳng hề tránh né, tay nâng áo cà sa, cứ thế tiến thẳng đến trước mặt vị Tể tướng.


Tiêu Vũ dừng ngựa, nhìn thấy tấm cà sa tỏa ra hào quang rực rỡ, liền sai thuộc hạ tiến đến hỏi giá:"Tấm áo cà sa ấy bán bao nhiêu tiền?"


Bồ Tát đáp:"Áo cà sa giá năm nghìn lượng vàng, tích trượng giá hai nghìn lượng."


Tiêu Vũ nghe xong, lấy làm kinh ngạc, bèn hỏi:"Vật này có gì đặc biệt mà dám định giá cao đến vậy?"


Bồ Tát đáp:"Áo cà sa của ta có chỗ tốt, cũng có chỗ không tốt; có người phải bỏ tiền mới mua được, cũng có người chẳng cần tốn một đồng."


Tiêu Vũ tò mò hỏi:"Thế nào là tốt, thế nào là không tốt?"


Bồ Tát nói:


"Người khoác áo cà sa của ta, sẽ không còn đọa vào luân hồi trầm luân, không sa địa ngục, không gặp tai ách hung hiểm, chẳng phải chịu nạn hổ lang. Đó chính là chỗ tốt. Còn nếu là hạng tăng nhân ngu muội, tham dâm háo sắc, ham mê họa phúc thế tục, kẻ xuất gia chẳng giữ giới luật, chẳng tu trai giới, hoặc phàm phu tục tử nhạo báng Phật pháp, hủy hoại kinh điển, thì ngay cả mặt áo cà sa của ta cũng khó lòng nhìn thấy. Đó chính là chỗ không tốt."


Tiêu Vũ lại hỏi:"Vậy thế nào là đáng tiền, thế nào là không đáng tiền?"


Bồ Tát đáp:


"Kẻ không tuân theo Phật pháp, chẳng kính trọng Tam Bảo, lại muốn cưỡng cầu mua áo cà sa và tích trượng của ta, thì nhất định phải trả đủ bảy nghìn lượng vàng. Đó gọi là đáng tiền. Còn nếu là người thành tâm kính trọng Tam Bảo, gặp việc thiện liền vui vẻ thực hiện, một lòng quy y Phật pháp, nguyện cầu tu hành, thì ta sẽ đem áo cà sa và tích trượng tặng không, kết một mối thiện duyên. Đó gọi là không lấy tiền."


Tiêu Vũ nghe xong, sắc mặt lập tức rạng rỡ, trong lòng biết người trước mặt chẳng phải kẻ tầm thường.


Ông liền xuống ngựa, cung kính hành lễ, tiến lên bái kiến Bồ Tát.


"Xin bái kiến Đại Pháp Trưởng Lão! Mong trưởng lão thứ lỗi cho Tiêu Vũ này. Bệ hạ Đại Đường chúng tôi vốn hết lòng hướng thiện, bá quan văn võ trong triều cũng đều tuân theo thánh chỉ, thành tâm tu hành. Hiện nay triều đình đang khai mở Thủy Lục Đại Hội, tấm áo cà sa này hẳn có thể để vị Đại Xiển Độ Tăng Cương Trần Huyền Trang pháp sư khoác dùng. Xin mời trưởng lão cùng tôi vào triều, yết kiến hoàng đế."


Bồ Tát vui vẻ nhận lời, cùng Mộc Xoa theo Tiêu Vũ tiến thẳng đến cửa Đông Hoa.


Quan Hoàng Môn vào cung bẩm báo. Thái Tông nghe tâu, lập tức truyền chỉ triệu kiến.


Nhìn ra ngoài điện, thấy Tiêu Vũ dẫn theo hai vị tăng nhân dung mạo tiều tụy, áo quần rách rưới đứng dưới thềm, nhà vua liền hỏi:


"Tiêu Vũ, khanh có việc gì muốn tâu?"


Tiêu Vũ cúi đầu đáp:


"Thần vừa ra đến cửa Đông Hoa, tình cờ gặp vị tăng nhân đang rao bán áo cà sa và tích trượng. Thần nghĩ rằng những bảo vật ấy có thể hữu ích cho Huyền Trang pháp sư trong việc chủ trì Thủy Lục Đại Hội, nên mới đưa vào cung, xin bệ hạ định đoạt."


Thái Tông nghe vậy, hết sức vui mừng, liền hỏi:"Tấm áo cà sa ấy có giá bao nhiêu?"


Bồ Tát và Mộc Xoa đứng dưới thềm, chẳng hành lễ, nghe nhà vua hỏi đến giá áo cà sa, liền thưa:


"Áo cà sa giá năm nghìn lượng vàng."


Thái Tông hỏi tiếp:"Áo cà sa ấy có gì đặc biệt mà lại bán đắt đến vậy?"


Bồ Tát đáp:


"Áo cà sa này, đường kim mũi chỉ uốn lượn như rồng, có thể tránh tai ương quạ cắp diều tha, sợi tơ óng ánh tựa hạc bay, giúp người hưởng phúc quả, siêu phàm nhập thánh. Khi ngồi có muôn thần chầu chực, lúc đi được chư Phật hộ thân."


Đường Thái Tông ngự trên bảo điện, nghe Bồ Tát nói vậy thì vô cùng vui mừng, lại hỏi:


"Thưa hòa thượng, cây tích trượng ấy có những điểm gì tốt?"


Bồ Tát đáp:"Cây tích trượng của ta có chín vòng, thân trượng cứng cáp vô cùng, mang theo phật quang, có thể trấn áp yêu tà quỷ quái."

0
Ủng hộ tác giả Mộng Tưởng Chi Nhân Gửi một lời động viên nhỏ để tác giả có thêm cảm hứng ra chương mới.