Nhân Gian Có Màn

Chương 10: Tiếng Gõ Trước Bậu Cửa

Đăng: 09/09/2026 00:56 3,437 từ 7 lượt đọc

Mưa tháng Chạp ở dải đất ven sông Đáy không dứt hẳn như người ta mong đợi, mà chỉ chuyển từ những hạt nặng trĩu thành một lớp bụi nước li ti, bay lờ mờ như khói sương bám chặt vào vách nứa, bờ rào. Mặt trời nhô lên chừng một con sào sau rặng tre cằn cỗi đầu xóm Cổ Miễu, nhưng ánh sáng rọi xuống chỉ là một vệt nhờ nhờ màu lòng đỏ trứng muối ung, nhợt nhạt và buốt giá. Bầu trời thấp tịt, xám xịt như một tấm áo chàm cũ ngâm bùn lâu ngày đem phơi giữa bãi bồi.

Vương Quang lội bộ trở lại xóm trại bằng con đường mòn chạy men theo chân đê. Đôi giày vải rách ngấm no nước triều cạn và cát phù sa, nặng trịch như đeo đá hộc vào hai cổ chân. Mỗi bước hắn nhấc lên đều phát ra tiếng bẹp... bẹp... nhớp nháp trên lớp cỏ năn ngập ngụa bùn non. Gió đông bắc thổi tạt qua mặt đê, mang theo cái mùi ngai ngái quen thuộc của rễ bèo tây chết úng và mùi khói rơm ẩm mục xộc thẳng vào cánh mũi buốt rát.

Vừa bước qua rặng tre ngà cong vút chắn gió đầu ngõ nhà họ Trần, Vương Quang đã nghe thấy tiếng người lao xao.

Một đám đàn bà xóm bãi đi chợ sớm về, tay xách rổ ốc bươu, mớ rau muống đông khẳng khiu, đứng túm tụm dưới bóng bụi chuối tiêu rách lá sát hàng rào tre mắt cáo. Đám người chỉ dám đứng ngoài cổng rào, mặt mày dáo dác nhìn vào gian nhà tranh xiêu vẹo giữa sân. Ở góc sân trước, mấy lão thợ chài râu ria xồm xoàm ngồi co ro trên chiếc cối đá thủng, tẩu thuốc lào trên tay không buồn châm lửa, thỉnh thoảng lại đưa mắt nhìn lên bàn thờ tạm nghi ngút khói hương rồi lắc đầu ngao ngán.

"Khổ thân u con nhà nó chưa..." Một bà lão bán trầu ngoài bến đò chép miệng một tiếng thật dài, vệt nước trầu đỏ lòm nhễu xuống khóe môi nhăn nheo như quả táo tàu khô. "Sớm nay con bé vác cuốc dắt thằng Cả ra mở cửa mả cho chồng, gạo rang muối mè còn bọc nguyên trong mo cau chưa kịp rải, thì đã thấy mấy ông lính cơ dưới huyện mặt hầm hầm đuổi về. Họ bảo bãi cát sụt lở, sóng ngoạm rỗng cả chân cồn, quan trên hạ lệnh cấm tiệt người làng bén mảng ra bãi tha ma. Bảo là nha môn đã sai người đắp bùn giữ mả cho rồi, đứa nào cả gan ra đào xới lôi thôi thì gông cổ giải về huyện đường tra khảo!"

"Gớm, quan với chả nha!" Một lão lái đò râu tóc bạc phơ, lưng còng gập xuống như con tôm luộc, gõ cành cạch chiếc đóm đóm vào cột tre nứt toác. "Sông Đáy mùa cạn này nước chảy êm như dải lụa qua lòng tay, sụt lở cái nỗi gì ở chân bãi ấy! Hôm mùng năm khiêng cỗ ván thằng Lượng ra mả, chính mắt lão nhìn thấy bãi cát phẳng lì, chỉ có con nước dưới lạch là quẩn tròn chảy ngược một cách kỳ quái. Đất này có điềm gở rồi, người chết đuối không được mát mẻ mồ mả thì cả cái xóm Cổ Miễu này cứ liệu cái thần hồn..."

Thấy bóng Vương Quang lầm lũi bước vào ngõ, tiếng bàn tán của đám đông bỗng ngưng bặt.

Mọi cặp mắt đổ dồn về phía hắn, vừa tò mò, vừa xen lẫn một nỗi sợ hãi mơ hồ. Ai ở cái xóm bãi này cũng biết đêm qua hắn là kẻ duy nhất thức trắng trong gian nhà có người chết về gõ cửa, rồi sáng sớm nay lại lội bộ cùng đám lính cơ huyện nha ra tận bãi cồn cát hoang vắng. Một kẻ chép mướn nghèo hèn kiếm từng đồng tiền kẽm, mặt mũi xanh xao như tàu lá héo vì thiếu ngủ, vậy mà từ hôm qua đến giờ cứ lượn qua lượn lại giữa lằn ranh của người sống và người chết.

Đối diện với những ánh nhìn dò xét đầy vẻ kiêng dè ấy, Vương Quang không hé răng nửa lời. Hắn cúi gằm mặt, hai bàn tay giấu chặt trong túi áo chấn thủ vá vai, lách mình qua khe hẹp của cánh cổng tre bước thẳng vào trong sân.

Khoảng sân đất nện đã ráo bớt nước mưa, nhưng dấu vết kinh hoàng của đêm qua vẫn còn in hằn rõ mòn mọt.

Lằn mực nho đen nhánh mà hắn quệt vội từ nửa nghiên mực lúc rạng sáng vẫn nằm vắt ngang hiên nhà, chia mặt đất thành hai nửa rạch ròi. Nét mực đã khô cong lại, bốc lên mùi muội than gỗ thông khét lẹt lấn át cả mùi ẩm mốc của mái rạ. Bên ngoài thềm sau, nơi thân xác Lượng từng sụp xuống thành một đống bùn nước vô tri, vệt nước nhờ nhờ xám đục đã ngấm sâu vào kẽ đá, chỉ trơ lại một lớp phù sa quánh đặc, bốc lên mùi tanh tưởi lợm giọng của bùn đen ngàn năm dưới lòng sông sâu.

Trong gian nhà tranh tối om, người vợ họ Trần ngồi bệt bên mép chiếc chõng tre ọp ẹp. Đầu nàng chít dải khăn xô trắng xộc xệch, dính bết vào mớ tóc mai xơ xác. Nàng ôm đứa con trai nhỏ ba tuổi vào lòng, đôi mắt sưng mọng, đỏ ngầu vì khóc ròng suốt ba ngày đêm, ánh nhìn đờ đẫn dán chặt vào khoảng không vô định trước mặt.

Nghe tiếng bước chân lẹp xẹp của đôi giày vải ướt, nàng giật thót người, run lên bần bật như người lên cơn sốt rét rồi ngẩng phắt đầu lên:

"Cậu Quang... Chú... chú vừa ngoài cồn cát về đấy à?"

Vương Quang dừng chân ngay trước bậu cửa, không bước qua lằn mực nho đen nhánh trên nền đất. Hắn nhìn người đàn bà goá bụa với đôi bàn tay gầy trơ xương đang ôm chặt lấy đứa trẻ, cổ họng hắn nghẹn đắng lại như vừa nuốt phải một ngụm nước bùn sông:

"Vâng. Cháu vừa ngoài bãi tha ma về."

"Người ta... quan trên bảo mả nhà tôi làm sao hả chú?" Nàng thều thào hỏi, từng tiếng đứt quãng như hơi thở của kẻ sắp kiệt sức, bàn tay bấu chặt lấy vạt áo chấn thủ vá víu của đứa nhỏ. "Họ bảo mả sụt... họ cấm mẹ con tôi ra thắp hương mở cửa mả... Chú Quang ơi, chú biết chữ, chú hiểu việc công đường, chú nói thật cho tôi nghe đi... Có phải... có phải nhà tôi về thật không chú?"

Câu hỏi của người đàn bà rơi tõm vào gian nhà vắng tanh, nặng nề như một tảng đá ngàn cân đè nghẹn lồng ngực Vương Quang.

Hắn nhìn xuống đống quần áo rỗng tuếch của Lượng vẫn nằm bẹp dí nơi góc chõng tre—chiếc áo nâu sồng rách vai và chiếc quần lụa đũi cáu bẩn mà người thợ đóng thuyền thường mặc mỗi bận đi xẻ gỗ thuê.

Hắn nhớ lại cỗ ván tạp toác lỗ tròn dưới đáy hố sâu bốn thước ngoài cồn cát.

Hắn nhớ khúc gỗ dâu cụt đầu cụt chân quấn tóc đàn bà rỉ từng giọt nước đỏ quạch như máu.

Hắn nhớ ánh mắt chim ưng sắc lạnh cùng lời cảnh cáo như dao cứa của viên Biền sứ Lưu Đôn: “Ngươi cầm bút mài mực, ăn cơm nhờ chữ nghĩa... nhưng biết quá nhiều chữ lại khiến người ta chết không có chỗ chôn.”

Và rùng rợn hơn cả, hắn nhớ hai bóng áo tro tàn đội mũ cánh chuồn đen nhánh của ngục lại cõi dưới đứng lơ lửng giữa màn sương sớm: “Ba ngày. Hạn định ba ngày của Câu Hồn Ti vẫn còn nguyên đó.”

Nói sự thật? Nói cho người đàn bà khốn khổ này biết rằng chồng nàng chết đuối nhưng xác không còn dưới mồ, rằng người đêm qua ngồi húp bát nước chè gừng ấm thực chất chỉ là một bọc bùn mượn lốt người phàm, và nấm mồ ngoài cồn cát vừa bị quan quân triều đình xúc bùn đen lấp kín để che giấu một thứ quái dị không mặt mũi?

Liệu nàng có chịu nổi không? Hay tâm trí của một người đàn bà chốn quê nghèo sẽ vỡ vụn ngay giữa gian nhà tranh dột nát này?

Vương Quang hít sâu một hơi buốt giá vào buồng phổi, ngón tay trong túi áo khẽ chạm vào mép chiếc thẻ bài đồng thau của cụ Từ. Hắn lắc đầu, cố giữ cho giọng mình bằng phẳng, nhẹ nhàng như lời dỗ dành:

"Thím đừng nghĩ quẩn mà tổn hại đến thân thể. Ngoài bãi tha ma... sóng sông Đáy đêm qua dâng to, thúc mạnh làm xói lở chân cồn cát. Quan trên nha Giang Hà Đốc Vận sợ sụt lún nguy hiểm đến đê điều và phong thổ của làng, nên mới sai lính thủy dùng bùn gia cố lại nấm mồ cho chắc chắn. Bác Lượng... đã được chôn cất yên nghỉ dưới đất rồi. Người làng xóm bãi cũng thấy thế, quan trên huyện đường cũng đã đóng dấu triện xác nhận thế rồi."

Người vợ trố mắt nhìn trân trối vào mặt Vương Quang. Đôi con ngươi đục ngầu của nàng đảo qua đảo lại, dường như đang cố tìm kiếm một kẽ hở, một tia dối trá trong từng nét mặt của chàng thư ký trẻ tuổi. Rồi đột nhiên, hai dòng nước mắt nóng hổi lại trào ra, lăn dài trên đôi gò má hóp rộp:

"Yên nghỉ... Yên nghỉ cái nỗi gì hả chú Quang ơi..." Giọng nàng nghẹn lại, run rẩy đưa ngón tay trỏ chỉ về phía góc đầu chiếc chõng tre: "Nếu nhà tôi thật sự nằm yên dưới ba thước đất... vậy thì cái này... sáng nay ở đâu chui ra?"

Vương Quang giật nảy mình.

Hắn bước qua lằn mực nho đen nhánh, bước nhanh lại gần chiếc chõng tre ngâm nước đã lên màu đen bóng.

Ở góc chõng, sát ngay mép chiếc gối nan rách nát đan bằng tre cật, có ba đồng tiền kẽm đang nằm ngay ngắn thành một hàng thẳng tắp.

Đó là ba đồng tiền kẽm thời trước, mép đồng hoen rỉ màu xanh xám vì ngâm nước phù sa quá lâu ngày. Ở lỗ vuông chính giữa mỗi đồng tiền vẫn còn đọng lại một chút bùn xám đục nhão nhoét. Nhưng kỳ quái thay, mặt dát tre xung quanh ba đồng tiền ấy lại khô ráo hoàn toàn, không hề vương lấy một giọt nước hay một hạt cát ẩm.

Vương Quang nín thở, đưa những ngón tay run rẩy nhặt một đồng tiền lên xem.

Kim loại chạm vào da thịt lạnh ngắt như một mẩu băng vụn. Đồng tiền nhẹ tênh, ở một góc mép tròn có một vết sứt mẻ hình tam giác nhỏ xíu bằng hạt thóc—vết tích do chiếc đục cùn của người thợ mộc vô tình chém phải khi đẽo mộng thuyền.

Đầu óc Vương Quang ong lên dữ dội.

Hắn nhớ như in tiếng đập đùi bực dọc của Lượng đêm qua, nhớ giọng nói khàn khàn vì khói thuốc lào của người đàn ông ngồi co ro bên ngọn đèn dầu: "Chết cái nỗi gì! Ta còn nợ lão rèn đầu ngõ ba tiền đồng mua đinh tán thuyền hôm hăm tám chưa trả, chết làm sao được mà chết!"

"Sáng nay lúc trời còn nhá nhem..." Người vợ nấc lên từng tiếng xé ruột, cả thân hình gầy còm run rẩy theo từng nhịp nấc: "...tôi thức dậy định nhóm bếp đun nước thì thấy ba đồng tiền này nằm chình ình ngay đầu giường. Thằng Cả... thằng Cả lúc ấy vừa mở mắt ra, nó cứ chỏ ngón tay ra khe liếp sau nhà, miệng bảo: 'U ơi, thầy về đứng ngoài hiên nhìn con, người thầy ướt sũng nước, thầy không nói gì cả, thầy chỉ đặt mấy đồng tiền xuống chiếu rồi đi...' Chú Quang ơi, tôi sợ quá... Tôi sợ đến thắt cả ruột gan rồi..."

Đứa trẻ lên ba ngồi trong lòng mẹ, đôi mắt tròn xoe ngơ ngác nhìn chiếc đồng tiền kẽm trên tay Vương Quang. Dường như nó chẳng hề hiểu được nỗi đau đớn hay sự kinh hoàng đang bóp nghẹt gian nhà này. Bàn tay nhỏ xíu, mũm mĩm của đứa bé bỗng giơ lên, ngón tay ngắn củn chỉ thẳng về phía khe hở của cánh cửa nứa phía sau nhà.

"Thầy đứng ngoài kia kìa..." Đứa nhỏ ngọng nghịu cất tiếng.

Vương Quang nín thở, lập tức quay ngoắt đầu nhìn ra sau.

Qua khe hở của tấm liếp tre đan mắt cáo, ngoài vườn chuối tiêu rách lá chỉ có gió sông thổi rào rào qua những ngọn cỏ năn ẩm ướt. Một màu xám xịt của bầu trời mùa đông bao trùm lấy bãi rười hoang vắng. Trống trơn. Không có lấy một bóng người.

Đứa trẻ lại phụng phịu rúc đầu vào ngực mẹ, buông thêm một câu lí nhí:

"Thầy bảo con ngủ ngoan."

Một luồng khí lạnh buốt giá chạy dọc từ xương cụt xốc thẳng lên đỉnh đầu Vương Quang, làm từng chân tóc hắn dựng ngược.

Hắn bước nhanh lại gần cánh cửa sau. Cánh cửa nứa đã bị Lượng giật gãy nát chiếc then cài bằng tre ngâm đêm qua, lúc này chỉ được người đàn bà khép tạm bằng một đoạn dây thừng mục bện bằng vỏ gai. Gió bấc từ bờ ao thổi thốc qua kẽ nứa làm tấm liếp đung đưa kẽo kẹt, phát ra những tiếng va chạm khô khốc đến rợn người.

Dưới bậu cửa bằng phiến đá rửa chân—nơi từng cắm ngập chiếc đinh thuyền quấn chỉ ngũ sắc rỉ máu—lúc này hoàn toàn trống trơn. Chiếc đinh sắt đã biến mất không để lại một chút dấu vết, như thể nó chưa từng tồn tại trên cõi đời này.

Thế nhưng, ngay trên lớp đất nện ẩm ướt sát mép đá rửa chân, có một vệt bùn đen tròn xoe, đọng lại thành hình một dấu gót chân người phàm.

Vết gót chân quay mặt vào trong nhà, ngón chân hướng ngược ra ngoài bờ ao.

Một dấu chân đi giật lùi.

Vương Quang đứng chôn chân bên bậu cửa, trừng trừng nhìn dấu chân bùn độc nhất ấy.

Hắn từng đọc hàng trăm chuyện ma quái dị văn trong những trang giấy bổi rách nát của cha, từng nghe kể về những oan hồn vất vưởng nơi bến nước bãi tha ma. Nhưng chưa có cuốn sách nào, chưa có câu chuyện truyền khẩu nào dạy cho hắn biết phải đối mặt với cảnh tượng này ra sao.

Ai đã đứng ở bậu cửa này lúc mờ sáng?

Là người thợ đóng thuyền thật sự tìm về nhìn mặt đứa con thơ lần cuối trước khi tan biến vào cõi hư vô? Hay là một thứ gì đó mang theo ký ức của Lượng, lặp lại những thói quen vụn vặt của một con người bằng xương bằng thịt để hoàn thành nốt những điều dang dở?

Vương Quang không biết. Hắn chỉ là một kẻ chép mướn mười chín tuổi, làm sao thấu suốt được những bí mật sâu kín nằm sau bức màn ngăn cách giữa sống và chết. Nhưng nhìn ba đồng tiền kẽm hoen rỉ trên mặt chõng, hắn hiểu một điều: người đàn ông chết đuối đêm qua đã nhắc đến món nợ này, và sáng nay, ba đồng tiền ấy đã được mang về đặt đúng nơi cần đặt.

Hắn quay lại chiếc chõng tre, nhẹ nhàng đặt đồng tiền kẽm sứt góc xuống bên cạnh hai đồng tiền còn lại.

"Thím Lượng," Vương Quang hạ thấp giọng xuống mức trầm nhất có thể: "Ba đồng tiền này, cứ để cháu mang ra đầu ngõ trả cho bác thợ rèn. Người sống còn nợ nần nhau thì cứ trả cho sòng phẳng, dứt điểm. Còn chuyện của bác Lượng... nếu dưới suối vàng bác ấy thật sự còn điều gì vướng bận, cháu nghĩ rồi trời đất cũng sẽ có cách an bài."

Người vợ ngẩng lên nhìn hắn qua màn nước mắt nhạt nhòa, nghẹn ngào khẽ gật đầu mà không thốt nên lời.

Vương Quang thò tay nhặt cả ba đồng tiền kẽm cho vào túi áo ngực, để nằm ngay ngắn cạnh chiếc thẻ bài đồng thau của cụ Từ. Ba đồng tiền kim loại cọ vào mặt thẻ bài, phát ra tiếng lách cách khe khẽ khô khốc.

Hắn dặn dò thêm:

"Thím lấy thanh tre cật cài chặt cánh cửa sau lại. Từ giờ đến chiều tối, tuyệt đối đừng cho thằng Cả ra ngoài bờ ao chơi nữa."

Dứt lời, hắn chắp hai tay từ biệt người đàn bà goá bụa rồi quay lưng bước ra khỏi gian nhà tranh rách nát.

Lúc bước qua lằn mực nho đen sẫm trên nền đất trước hiên, hắn khựng lại nửa nhịp, cúi đầu nhìn vệt mực đã khô kiệt từ bao giờ. Đêm qua, lằn mực này đã ngăn được dòng bùn non tanh tưởi trườn vào trong nhà, nhưng ranh giới giữa cõi sống và cõi chết dường như chưa bao giờ rạch ròi, dứt khoát như một nét mực viết trên giấy bản.

Bước chân ra khỏi cổng rào tre xóm Cổ Miễu, Vương Quang không rẽ lên bờ đê để tìm đến ngôi miếu Thành Hoàng đầu làng ngay.

Hắn rẽ sang lối mòn chạy dọc bờ mương dẫn nước, men theo rặng rào dâm bụt trổ vài bông hoa đỏ quạch héo úa vì sương muối, hướng thẳng về phía túp lều lợp lá cọ của lò rèn đầu ngõ.

Bầu trời tháng Chạp sà xuống thấp tịt, gió sông thổi từng cơn buốt thấu tận xương tủy. Từ phía lò rèn cách đó chừng trăm bước, tiếng bễ thụt phì phò hòa lẫn với tiếng búa nện chan chát trên đe sắt cheng... cheng... bắt đầu vang lên đều đặn giữa không gian vắng lặng. Khói than đá cay nồng quyện vào màn sương sớm, làm không khí xóm bãi càng thêm ảm đạm, ngột ngạt.

Vương Quang đi được một quãng đường đất trơn trượt mới sực nhận ra bàn tay phải của mình vẫn đang thò trong túi áo, nắm chặt lấy ba đồng tiền kẽm mẻ góc. Mặt đồng lạnh ngắt chạm vào lòng bàn tay ướt đẫm mồ hôi của hắn.

Đột nhiên, từ phía sau lưng hắn, một âm thanh rất khẽ bỗng vang lên.

Bẹp... Bẹp...

Đó là tiếng bước chân lẹp xẹp của một đôi chân trần giẫm lên lớp cỏ năn ẩm ướt, chậm rãi và nặng nề, mang theo thứ âm thanh nhớp nháp của bùn lầy đáy sông.

Vương Quang khựng bước chân lại.

Tiếng động phía sau lưng hắn cũng lập tức ngừng bặt.

Chỉ còn lại tiếng gió bấc rít qua rặng tre ngà và tiếng búa rèn sắt đập chan chát ở đằng xa.

Lồng ngực Vương Quang đập dồn dập như muốn nổ tung. Hắn hít sâu một hơi buốt giá, cắn chặt môi dưới rồi bước tiếp một bước dài.

Một nhịp chân.

Và ngay tức khắc, chỉ cách gót đôi giày vải rách của hắn chừng nửa bước chân, một nhịp bước nặng trịch, ướt sũng bùn lầy lại nện xuống mặt đất nện sau lưng hắn.

Bẹp.

Vương Quang không quay đầu lại. Ngón tay hắn miết thật chặt lên vết sứt mẻ hình tam giác của đồng tiền kẽm trong túi áo, ánh mắt nhìn trừng trừng vào cột khói than đen ngòm đang bốc lên từ mái lều lò rèn phía trước mặt.

Và lần đầu tiên kể từ đêm qua, một câu hỏi lạnh ngắt chợt vụt qua tâm trí hắn:

Nếu người chết có thể lần mò tìm đường trở về nhà nhờ một món nợ trần gian chưa trả... vậy thì thứ đang từng bước, từng bước đi sát ngay sau gót chân hắn lúc này... rốt cuộc đang muốn đòi món nợ của ai?

0
Ủng hộ tác giả Cương Vương Nếu bạn yêu thích tác phẩm, hãy ủng hộ mình ly cafe nhé <3