Nhân Gian Có Màn

Chương 11: Lò Rèn Không Đỏ Lửa

Đăng: 09/09/2026 09:12 2,550 từ 5 lượt đọc

Mùi khói than đá khét lẹt tạt qua bờ mương làm sống mũi Vương Quang cay xè, nhưng cái cay nồng của muội than không át nổi thứ mùi ngai ngái, tanh nồng của bùn rười đang lởn vởn ngay sát sau gáy.

Hắn không dám quay đầu lại.

Lời dặn dò ghi trong cuốn dị văn cũ nát của cha bỗng dội về trong tâm trí, từng con chữ như khắc vào óc: Đi đêm đường vắng, nếu nghe sau gót có tiếng chân dẫm bùn mà không thấy bóng, tuyệt đối chớ ngoảnh mặt, chớ gọi tên. Quay đầu là tán khí, ngoảnh mặt là nhận quen. Đã nhận quen thì ma dẫn lối, quỷ đưa đường, bước chân sa vào đầm lầy lúc nào không hay.

Vương Quang cắn chặt môi dưới đến rướm máu. Vị tanh mằn mặn lan nơi đầu lưỡi giúp hắn giữ chặt lấy chút thần trí tỉnh táo cuối cùng giữa cơn gió bấc thổi thông thốc qua bờ rẫy. Hắn siết chặt ba đồng tiền kẽm trong túi áo chấn thủ, mắt nhìn đăm đăm vào mái lều lợp lá cọ xiêu vẹo của lò rèn đầu ngõ, sải từng bước dài, dứt khoát.

Mỗi nhịp giày vải của hắn nện xuống lớp cỏ năn ẩm ướt, thì ngay sau gót lại có một tiếng bẹp... bẹp... nhão nhoét đuổi theo. Khoảng cách giữa hai bên chưa bao giờ vượt quá nửa cánh tay. Hơi lạnh bốc lên từ sau lưng phả vào gáy hắn từng đợt, buốt giá như có ai vừa áp một tảng đá ngâm đáy giếng cạn vào da thịt.

Trăm bước chân dài như cả một dặm đường thiên lý.

Khi mũi giày rách của Vương Quang chạm vào khoảng sân rải đầy xỉ than đen nhánh trước cửa lò rèn, tiếng bước chân nhớp nháp sau lưng đột ngột ngưng bặt.

Cái lạnh sau gáy hắn cũng như một làn khói mỏng, tan biến vào không khí đặc quánh mùi sắt gỉ.

Hắn khựng lại, đứng chôn chân trên lớp xỉ than lạo xạo chừng vài nhịp thở, lồng ngực phập phồng như người vừa ngoi lên khỏi mặt nước sâu. Vương Quang từ từ buông lỏng các ngón tay trong túi áo, thở hắt ra một ngụm khói trắng nhạt nhòa rồi mới dám ngước mắt nhìn vào bên trong túp lều.

Lò rèn của lão Cửu Thợ Rèn nằm chơ vơ ngay khúc quanh dẫn ra bến đò Đáy. Đó là một gian lều cọc tre lợp lá cọ xơ xác, bốn bề trống hoác đón trọn những cơn gió bấc buốt giá từ mặt sông thốc lên.

Thế nhưng, khác hẳn với sự lạnh lẽo của đất trời tháng Chạp, bên trong lò rèn lại bốc lên một luồng khí nóng hầm hập.

Chính giữa lều, bếp lò đắp bằng đất sét pha rơm nung đỏ rực than đá. Tiếng bễ thụt bằng gỗ lim kéo qua đẩy lại kẽo kẹt, phát ra từng hồi phì phò... phì phò... đều đặn như hơi thở của một con trâu mộng. Cứ mỗi nhịp bễ dập xuống, tàn lửa đỏ hoa cà lại bắn tung tóe lên mái lá cọ ám đầy muội than đen kịt.

Một người đàn ông trần trùng trục nửa thân trên đang đứng cạnh đe sắt.

Lão Cửu trạc ngoài năm mươi, vóc người thấp đậm, lưng gù như vồ gỗ, hai cánh tay cuồn cuộn những múi thịt thô ráp phủ đầy sẹo bỏng lớn nhỏ. Nước da lão ngăm đen màu sắt nguội, mồ hôi nhễ nhại chảy ròng ròng trên bộ ngực vạm vỡ dính bết bụi than.

Trên tay lão là một cây búa tạ cán gỗ nghiến nặng chừng mười cân. Tay kia, chiếc kìm sắt dài hai thước đang kẹp chặt một thỏi kim loại đỏ rực gắp ra từ đáy lò than.

Cheng! Cheng! Cheng!

Tiếng búa nện xuống đe sắt vang lên chát chúa, chấn động cả màng nhĩ. Từng nhát búa giáng xuống dứt khoát, nặng ngàn cân, làm những đốm lửa li ti bắn ra thành từng chùm sáng rực rỡ giữa gian lều tối tăm.

Vương Quang bước qua ngưỡng cửa rải xỉ than, chắp hai tay lại, cất tiếng chào giữa tiếng búa rền vang:

"Bác Cửu."

Lão Cửu không dừng tay búa. Cây búa tạ vẫn nện xuống thỏi sắt đỏ rực với một nhịp điệu đều đặn đến đáng sợ. Lão chỉ khẽ liếc con mắt bên trái—con mắt độc nhất còn lành lặn, con mắt kia đã bị vảy sắt bắn mù từ mười năm trước, đục ngầu như một hạt ngô luộc—quét qua người Vương Quang.

"Thằng Quang đấy à?" Giọng lão Cửu ồm ồm như tiếng lệnh đồng va vào chum vại, khô khốc và gắt gỏng. "Nửa ngày trời không thấy tiếng mõ tang, tưởng mày theo đám ma ra bãi tha ma Cồn Cát chôn thằng Lượng xong xuôi rồi chứ? Ra lò rèn của tao làm cái giống gì? Mày muốn rèn dao gọt bút hay chuốt lại ngòi sắt?"

Cheng!

Nhát búa cuối cùng giáng xuống làm thỏi sắt đỏ rực tóe lửa. Lão Cửu nhanh tay nhúng thỏi sắt vào thùng nước tôi bằng gỗ đặt cạnh bệ lò.

Xèo... xèo...!

Một cột khói trắng đùng đục bốc lên nghi ngút, mang theo mùi nồng nặc của nước tôi sắt pha nước tiểu ngựa xộc thẳng vào không khí, làm gian lều mịt mù như trong cơn mê trận.

Vương Quang nuốt khan một ngụm nước bọt, bước lại gần bệ lò thêm nửa bước. Hơi nóng từ than đá phả vào mặt làm da thịt hắn rát bỏng, nhưng cái buốt giá ngấm sâu trong tủy từ đêm qua dường như vẫn không tan biến được:

"Bác Cửu... Cháu sang đây không phải rèn dao."

Lão Cửu vớt thỏi sắt đã đen sì ra khỏi thùng nước, ném đánh keng một tiếng khô khốc xuống nền đất nện. Lão với lấy chiếc khăn vải xô cáu bẩn vắt trên vai lau mồ hôi trán, nheo nheo con mắt độc nhất nhìn xoáy vào túi áo ngực của Vương Quang:

"Không rèn dao thì sang đây làm gì? Nhà thằng Lượng có biến à?"

Vương Quang giật mình. Hắn chưa hề nhắc đến tên Lượng, vậy mà lão thợ rèn vừa mở miệng đã hỏi thẳng vào chuyện nhà họ Trần.

"Sao bác biết nhà bác Lượng có biến?"

Lão Cửu cười khẩy một tiếng, nụ cười méo xệch để lộ hàm răng ám khói thuốc lào đen sì. Lão bước lại gần chiếc chõng tre con kê ở góc lều, với lấy chiếc bát sành mẻ rót một bát nước vối đặc quánh, ực một hơi cạn sạch rồi quệt ngang miệng:

"Cái xóm Cổ Miễu này có bao nhiêu tấc đất, bao nhiêu cái mồm, tao ngồi gõ búa ở đầu ngõ này ba mươi năm mà không biết chắc? Sớm nay lính thủy dưới sông kéo lên rầm rập, tiếng còi đồng của nha Đốc Vận rúc vang cả khúc sông, rồi lại thấy thằng Đỗ thư lại xách sổ bộ chạy quắn đít về huyện... Người làng kháo nhau mả thằng Lượng bị sụt, nhưng tao thì tao lạ gì con nước sông Đáy mùa cạn này."

Lão đặt chiếc bát sành xuống chõng tre đánh cạch, ánh mắt bỗng trở nên sắc lẹm:

"Có phải... thằng Lượng về nhà rồi không?"

Không gian trong lò rèn bỗng chốc lặng ngắt như tờ. Chỉ còn lại tiếng than đá lách tách nổ trong đáy bếp lò và tiếng gió sông rít qua kẽ lá cọ trên mái.

Trái tim Vương Quang thắt lại. Hắn nhìn lão thợ rèn lưng gù trước mặt, cảm thấy người đàn ông quanh năm bầu bạn với sắt thép và than lửa này dường như nắm giữ những điều mà cả cụ Từ giữ miếu lẫn viên Biền sứ Lưu Đôn đều chưa từng hé môi.

Hắn không trả lời câu hỏi của lão Cửu, mà chầm chậm thò tay vào túi áo ngực.

Ba ngón tay hắn kẹp lấy ba đồng tiền kẽm hoen rỉ phù sa, đưa ra trước mặt lão thợ rèn:

"Bác Lượng nợ bác ba tiền đồng mua đinh hôm hăm tám tháng Chạp. Sáng nay thím Lượng tìm thấy ba đồng này ở đầu chõng tre... bảo cháu mang sang gửi trả bác cho sòng phẳng."

Lão Cửu nhìn ba đồng tiền kẽm nằm lọt thỏm trong lòng bàn tay gầy guộc của Vương Quang.

Kỳ lạ thay, lão không hề đưa tay ra đón lấy tiền.

Con mắt độc nhất của lão thợ rèn co rút lại thành một chấm nhỏ xíu. Lão nhìn chằm chằm vào vết sứt mẻ hình tam giác trên mép đồng tiền thứ nhất, rồi lại nhìn lớp bùn xám đọng nơi lỗ vuông của hai đồng tiền còn lại. Cơ mặt lão giật giật, lồng ngực vạm vỡ phập phồng những nhịp thở nặng nhọc, đứt quãng.

"Ba đồng tiền này..." Lão Cửu thì thào, giọng nói khàn đặc như có sạn kẹt trong cuống họng. "...sáng nay mới xuất hiện trên chõng tre?"

"Vâng. Thím Lượng bảo sáng sớm thức dậy đã thấy nằm ngay ngắn cạnh gối. Thằng Cả... thằng bé còn thấy bóng người đứng ngoài hiên sau bảo nó ngủ ngoan."

Lão Cửu bỗng nhiên ngửa mặt lên trời, bật ra một tiếng cười the thé, chói gắt như tiếng sắt cọ vào đá mài:

"Ha ha! Về trả nợ! Trần Khắc Lượng ơi là Trần Khắc Lượng, mày chết rồi mà cái thói cố chấp của phường thợ mộc vẫn không bỏ được!"

Tiếng cười của lão đột ngột ngưng bặt. Lão bước tới một bước, tóm chặt lấy cổ tay Vương Quang.

Bàn tay lão thợ rèn thô ráp như vỏ cây thông, những vết chai cứng như đá siết mạnh vào xương cổ tay khiến Vương Quang đau điếng. Lão kéo giật tay hắn lại gần bếp lò than đang đỏ rực:

"Mày có biết ba đồng tiền này là tiền gì không, thằng chép mướn?"

"Tiền... tiền mua đinh đóng thuyền..." Vương Quang cắn răng chịu đau, đáp.

"Đinh đóng thuyền cái con mẹ mày!" Lão Cửu gầm lên một tiếng trầm đục trong họng. "Hôm hăm tám tháng Chạp, thằng Lượng sang đây thật. Nhưng nó không mua đinh thuyền gỗ mục của nó! Nó đến đập bàn, ném xuống ba đồng tiền kẽm mẻ góc này, đòi tao rèn cho nó một chiếc đinh dị dạng!"

Đầu óc Vương Quang nổ tung một tiếng oong.

Chiếc đinh.

Lại là chiếc đinh sắt.

"Bác... bác rèn cho bác ấy chiếc đinh gì?" Vương Quang dằn nỗi đau nơi cổ tay, gặng hỏi từng chữ.

Lão Cửu buông tay Vương Quang ra, lùi lại nửa bước. Lão quay lưng về phía bếp than rực lửa, bóng lưng gù của lão đổ dài trên nền đất nện, đen sì và quái dị:

"Nó mang sang đây một mẩu sắt vụn vớt dưới đáy sông Đáy, bảo tao dùng than đá nung chảy ra, rèn thành một chiếc đinh thuyền dài nửa gang tay. Thân đinh phải gọt bốn cạnh vát, khắc bảy rãnh rỉ sét hình ngọn sóng cuộn, và trên đầu mũ đinh... phải đột một lỗ tròn nhỏ để xỏ vừa sợi chỉ ngũ sắc. Nó bảo chiếc đinh ấy dùng để đóng vào sống thuyền mới, giúp thuyền vượt qua được ngã ba sông."

Vương Quang chết lặng.

Đầu mũ đinh có lỗ xỏ chỉ ngũ sắc. Bốn cạnh vát, bảy rãnh sóng.

Đó chính xác là chiếc đinh cắm ngập bậu cửa đá rửa chân nhà họ Trần đêm qua, và cũng chính là hình dạng chiếc đinh găm giữa trán khúc Mộc Thai ngoài cồn cát. Hai thứ đó không phải do ngẫu nhiên mà giống nhau. Chúng được đúc ra từ cùng một ý đồ, cùng một kích cỡ đến từng đường cưa, vết đột.

"Rồi... rồi bác có rèn không?"

"Rèn cái mả cha nó!" Lão Cửu nhổ toẹt một bãi nước bọt xuống đống xỉ than, khói bốc lên xèo một tiếng. "Tao là thợ rèn ba đời ở cái ngã ba sông này. Vừa sờ vào mẩu sắt ấy, tao đã thấy tay mình buốt đến tận tim. Người trong nghề gọi thứ đó là 'sắt ngậm nước'—thứ sắt nằm dưới đáy vực sâu quá trăm năm, ăn no bùn rác và chướng khí, người sống không ai được phép đem đặt lên đe. Lửa than trần gian đốt không đỏ nổi nó, mà búa nện xuống thì tán khí người rèn. Tao chửi vào mặt nó, bảo thứ sắt này đúc thành đinh chỉ có đem đi cắm cọc đo đất cõi chết, chứ đóng vào thuyền thì lật thuyền chết cả lò!"

Lão Cửu dừng lại một nhịp, con mắt độc nhất trợn trừng nhìn trân trối vào ba đồng tiền kẽm:

"Tao đuổi nó về. Tao vứt trả lại ba đồng tiền này vào mặt nó, bảo cút đi. Hôm ấy nó nhặt tiền lên, lủi thủi bước ra ngõ. Thế mà hôm mùng bốn... người ta vớt được xác nó trương phình nổi lềnh bềnh ở bãi bồi."

Lão thợ rèn run rẩy, giọng nói bỗng hạ thấp xuống như tiếng thì thào của kẻ sắp hụt hơi:

"Tao chưa từng rèn chiếc đinh ấy cho nó. Tao chưa hề nhận ba đồng tiền này."

Lão Cửu quay phắt sang nhìn Vương Quang, ánh mắt ngập tràn một nỗi kinh hoàng bị đè nén:

"Nếu tao không rèn, vậy thằng Lượng lấy đâu ra chiếc đinh sắt kia? Và ba đồng tiền này... nếu không phải là tiền trả công cũ, thì sáng nay nó mang về đặt trên chõng tre là để làm gì? Là để trả nợ cho tao... hay là để mua mạng kẻ khác?"

Ba đồng tiền không phải là trả nợ.

Chúng là tiền đặt cọc. Một bản giao kèo mua đinh chưa từng bị hủy bỏ, mà chỉ tạm hoãn lại cho đến khi có kẻ mang nó trở lại lò rèn này.

Vương Quang cảm thấy ba đồng tiền trong tay bỗng nặng trịch như ngàn cân sắt vụn, lạnh ngắt thấu qua da thịt.

Một cơn gió bấc cực mạnh bất thần thốc thẳng vào trong gian lều lá cọ.

Ngọn lửa than đá đang đỏ rực trong bếp lò bỗng nhiên chao đảo dữ dội, rồi như bị một bàn tay vô hình bóp nghẹt, ánh lửa bỗng chốc lụi tàn, chuyển sang một màu xám xịt, lạnh ngắt như tro vùi đáy mộ.

Bếp lò tắt ngấm.

Khói than biến mất hoàn toàn, chỉ còn lại thứ mùi tanh nồng của bùn sông cuồn cuộn dâng lên từ dưới nền đất rải xỉ than.

Và ngay giữa gian lều tối tăm, từ khoảng không ẩm ướt sát vách nứa sau lưng lão Cửu, một tiếng gõ khô khốc bỗng vang lên.

Cộc... Cộc... Cộc...

Tiếng búa sắt nện vào đe. Đều đặn. Chậm rãi.

Nhưng chiếc búa tạ của lão Cửu... lúc này vẫn đang nằm chỏng chơ dưới chân Vương Quang.

0
Ủng hộ tác giả Cương Vương Nếu bạn yêu thích tác phẩm, hãy ủng hộ mình ly cafe nhé <3