Chương 4: Thủy Tiêu Đội Ở Chân Núi Nưa
Nam Thiên Tu Tiên Truyện
Mục lục
7 chươngCuộn, vuốt hoặc dùng hai nút để xem thêm Đã tải 7/7 chương
Dưới chân rặng Núi Nưa mây phủ, Bạch Hạc Tiêu Trang sừng sững tựa như một tòa thành lũy bằng đá xám và gỗ lim, chiếm trọn một thung lũng thoai thoải ăn thông ra nhánh sông Chu.
Những ngọn cờ đuôi nheo thêu hình hạc trắng bay vút trên các tháp canh cao ngất. Cổng trang viện rộng thênh thang, hai bên là những hàng cọc gỗ vót nhọn cắm sâu xuống đất, nơi những tay tiêu sư giáp da, tay lăm lăm trường thương đứng gác với ánh mắt sắc lạnh như diều hâu.
Cỗ xe ngựa chở đám trẻ dừng lại trước một bãi đất nện thênh thang nằm ở mé ngoài tiêu trang. Đám trẻ lục tục nhảy xuống xe, đứa nào đứa nấy mặt mày bơ phờ, chân tay run lẩy bẩy vì say xe và ngộp thở sau một ngày dài chen chúc.
Một gã chấp sự mặc áo dài gấm xanh, tay cầm cuốn sổ da trâu và chiếc bút lông phe phẩy, bước ra đứng trên bục đá cao. Phía sau gã là hai hàng đệ tử tiêu trang lực lưỡng, tay cầm roi mây to bằng ngón chân cái.
"Tất cả trật tự! Đứng xếp thành ba hàng dọc!" Gã chấp sự quát lớn, giọng the thé át cả tiếng gió rừng. "Hôm nay là ngày phân định tiền đồ của các ngươi. Đứa nào có căn cốt, gia thế trong sạch sẽ được vào Võ Sinh Viện học quyền cước, đao kiếm để sau này làm tiêu sư cưỡi ngựa mang bạc. Đứa nào đần độn, vô dụng thì đi làm phu quét dọn, chăn ngựa, gánh nước!"
Nghe đến đó, đám trẻ con nhà khá giả ở trấn trên lập tức hớn hở, chen lấn lên phía trước. Cha mẹ chúng đã bỏ tiền lót tay từ trước, từng chiếc hầu bao nặng trịch lén lút được nhét vào tay gã chấp sự dưới gầm bàn. Chỉ sau vài câu hỏi han qua loa, gã chấp sự liền vung bút phê hai chữ "Võ Sinh" vào thẻ bài gỗ của bọn chúng, cho người dẫn vào khu nội viện khang trang lợp ngói đỏ.
Đến lượt đám trẻ con nhà nghèo, gã chấp sự chỉ liếc mắt nhìn qua loa, giọng khinh khỉnh:
"Tên gì? Có biết chữ không? Có biết chút quyền cước võ nghệ nào chưa?"
Đám trẻ ấp úng, sợ hãi cúi gằm mặt xuống đất bẩn. Đứa thì bị phê đi gánh phân bón vườn, đứa thì bị ném vào chuồng ngựa xúc phân suốt ngày đêm.
Cuối cùng, Lý Quân bước lên trước bàn đá.
Hắn đứng thẳng lưng, hai bàn chân trần bè bè bám chặt xuống đất nện. Manh áo cộc chắp vá đã khô cong, để lộ nước da ngăm đen bóng nhẫy và đôi bả vai gầy nhưng săn chắc như gỗ lim ngâm nước. Đôi mắt đen láy của đứa trẻ mười tuổi nhìn thẳng vào mắt gã chấp sự, bình thản lạ thường.
Gã chấp sự khẽ nhíu mày, gõ cán bút lông lên bàn:
"Nhóc con, quê ở đâu? Biết làm cái gì?"
"Thưa chấp sự, cháu là Lý Quân, dân vạn chài sông Mã thuộc tổng Hoằng Hóa." Giọng Lý Quân trầm ấm, không nhanh không chậm, mạch lạc rõ ràng: "Cháu không biết chữ, cũng chưa từng học quyền cước. Cháu chỉ biết lặn nước mò ốc bắt cá, nhịn thở được một nén nhang dưới đáy sông, biết chèo thuyền vượt ghềnh đá."
Gã chấp sự ngẩn người ra một thoáng. Bình thường lũ trẻ nhà quê lên đây đứa nào cũng run như cầy sấy, van xin được làm việc nhẹ. Thằng nhóc này tướng mạo tuy thô kệch, nghèo khổ nhưng ánh mắt tĩnh lặng đến kỳ quặc, không hề có nửa phần rụt rè.
Gã lật cuốn sổ da trâu sang trang sau cùng, khẽ hừ một tiếng:
"Dân lặn sông Mã à? Vừa vặn bên bến sông Chu đang thiếu chân phu nạo vét luồng lạch. Được rồi, lấy thẻ bài này rồi cút sang góc trái!"
"Bộp!" Một chiếc thẻ gỗ sơn đen có khắc bốn chữ đỏ quạch "Thủy Tiêu Lao Dịch" bị ném cộc lốc xuống mặt bàn.
Lý Quân không hề tỏ ra thất vọng hay oán thán. Hắn cúi đầu chắp tay nhận lấy tấm thẻ gỗ, lẳng lặng bước sang góc sân bóng râm đứng chờ. Hắn biết rõ thân phận của mình: Một kẻ không tiền lót tay, không gia thế, muốn sống sót ở chốn này thì có một chỗ dung thân đã là may mắn lớn.
Đúng lúc đó, chú Ba (Lý Tam) từ trong nhà kho lớn vội vã chạy ra. Nhìn thấy tấm thẻ bài gỗ đen trong tay đứa cháu trai, sắc mặt chú Ba thoáng chốc tối sầm lại, trong mắt dâng lên một nỗi xót xa khôn tả.
Chú Ba kéo Lý Quân ra một góc khuất sau bụi tre ngà, hạ giọng:
"Thằng Quân... sao lại là Thủy Tiêu Đội? Đội này là khổ sai nguy hiểm bậc nhất tiêu trang! Quanh năm suốt tháng phải ngâm mình dưới nước sông Chu nước sông Mã, mùa lũ thì chống thuyền vượt thác ngầm, mùa cạn thì lặn mò đáy đá nạo luồng... Đã có không biết bao nhiêu phu thuyền bỏ xác dưới xoáy nước rồi con có biết không?"
"Cháu biết, chú Ba." Lý Quân nắm chặt tấm thẻ bài gỗ trong lòng bàn tay, khẽ ngẩng đầu nhìn người chú ruột: "Nhưng cháu sinh ra từ sông nước, nước sông Mã cháu còn lặn được thì nước sông Chu cháu không sợ. Cháu làm phu thuyền, mỗi tháng có chắc chắn năm trăm tiền gửi về cho cha cháu bốc thuốc không chú?"
Lý Tam sững sờ nhìn đứa cháu mười tuổi. Một cảm giác nghẹn ứ nơi cổ họng khiến người đàn ông giang hồ dạn dày sương gió không kìm được tiếng thở dài. Ông thò tay vào ngực áo, móc ra một chuỗi tiền kẽm chừng hai trăm đồng và một con dao găm nhỏ có vỏ bằng xương cá kiếm, nhét sâu vào tay nải của Lý Quân:
"Số tiền này con giữ phòng thân. Còn con dao này là bảo bối chú từng dùng để rạch bụng trăn nước trên ngàn, bén ngọt lắm, lặn sông gặp rong rêu vướng víu hay thú dữ dưới nước thì cứ dùng nó mà tự vệ." Chú Ba ghì chặt vai hắn, mắt đỏ hoe: "Nhớ kỹ lời chú: Ở Thủy Tiêu Đội, kẻ khỏe chưa chắc sống lâu, chỉ có kẻ biết nhẫn nhịn và biết nhìn con nước mới giữ được cái mạng trở về. Thấy dòng xoáy dữ thì đừng có dại mà bơi ngược, cứ thuận theo dòng mà lặn sâu, tìm chỗ đá êm mà bám vào!"
"Cháu khắc ghi lời chú." Lý Quân cẩn thận cất chuỗi tiền và con dao xương vào cạp quần, khẽ cúi đầu tạ ơn.
Nửa canh giờ sau, Lý Quân cùng sáu đứa trẻ khác bị lùa xuống Bến Vạn Lạch — trạm đóng quân của Thủy Tiêu Đội nằm nép mình bên một khúc quanh của dòng sông Chu, cách tiêu trang chính chừng hai dặm.
Nơi này hoàn toàn tách biệt với vẻ tráng lệ của Bạch Hạc Tiêu Trang.
Mùi dầu rái khét lẹt nồng nặc bốc lên từ những chiếc thuyền đinh đen trùi trũi đang được trét lại mạch ván. Hàng chục phu thuyền người trần trùng trục, da dẻ sạm đen bóng nhẫy như da trâu nước, bắp thịt cuồn cuộn đang hò dô kéo những súc gỗ lim nặng hàng tấn từ dưới lòng sông lên bãi. Dưới mép nước bùn sình, những cuộn dây thừng chão to bằng bắp chân ngâm nước lâu ngày bốc lên mùi ẩm mốc tanh tưởi.
"Tất cả đứng lại!"
Một giọng nói khàn đặc, lục bục như hai hòn sỏi cọ vào nhau cất lên từ bậu cửa một căn nhà sàn dựng bằng tre nứa tuềnh toàng ven mép nước.
Một lão già chừng năm mươi lăm tuổi tập tễnh bước xuống bậc thang gỗ. Lão mặc chiếc áo cộc rách tả tơi, để lộ bộ ngực gầy guộc chằng chịt những vết sẹo dài ngoằng như rết bò. Con mắt bên trái của lão bị mù, che lại bằng một miếng da bò đen đúa; bàn chân phải cụt mất hai ngón, ngón chân cái to bè quặp chặt xuống bùn đất.
Đó là Cai Thụ (Cai Quản Thụ) — đội trưởng khét tiếng cộc cằn của Thủy Tiêu Đội.
Lão đảo con mắt chột còn lại sắc như dao cạo lướt qua đám nhóc mới đến. Lão dừng lại trước mặt Lý Quân, nhìn chằm chằm vào đôi bàn chân trần bè bè có màng ngón bám bùn rất chắc và hai bàn tay chai sần vì kéo lưới của hắn, khẽ nhếch mép gằn giọng:
"Mấy thằng ranh con này... nhìn đã thấy vô dụng! Ở cái bến nước này không có chỗ cho lũ ẻo lả khóc nhè. Một ngày hai bữa cơm ngô độn khoai, đứa nào lười biếng trốn việc, tao quẳng xuống sông Chu cho cá rỉa xương!"
Nói đoạn, lão vứt cho mỗi đứa một manh chiếu rách và một chiếc bát sành sứt mẻ:
"Chui vào góc lán mà ngủ. Canh tư sáng mai dậy sớm vác sào ra bến!"
Căn lán của phu thuyền Thủy Tiêu Đội dài hun hút, sàn lát bằng những thân bương đập dập kêu cót két theo từng bước chân. Gió từ mặt sông Chu thổi thốc qua các khe liếp lạnh buốt thấu xương.
Bên cạnh Lý Quân là một thằng bé trạc mười một tuổi, người mập mạp tròn trùng trục tên là Lãm (thường gọi là Lãm Mập), con một người thợ gốm ở vùng Thiệu Hóa vì nợ nần mà phải bán thân vào làm phu thuyền. Vừa đặt lưng xuống manh chiếu ẩm mốc, Lãm Mập đã vùi mặt vào cánh tay khóc thút thít vì nhớ nhà và sợ hãi.
Lý Quân không khóc. Hắn trải manh chiếu rách xuống góc trong cùng của sàn tre, nơi khuất gió nhất. Hắn cởi chiếc tay nải, lấy hai đồng tiền kẽm của mẹ và con dao xương cá của chú Ba ra kiểm tra lại cẩn thận rồi giắt chặt vào thắt lưng.
Đêm về khuya, sương lạnh từ đỉnh Am Tiên trên rặng Núi Nưa tràn xuống thung lũng, bao phủ bến sông Chu trong một màn sương mờ ảo tịch mịch. Tiếng sóng sông Chu vỗ ì oạp vào mạn thuyền đinh, hòa cùng tiếng gió rít qua rặng tre ngà nghe như bản hòa tấu trầm buồn của kiếp phàm nhân lầm than.
Lý Quân nằm ngửa, nhìn lên mái lán thủng lác đác những ánh sao đêm le lói. Hắn nhớ đến khuôn mặt hốc hác của cha, nồi cá bống kho nghệ cay xè của mẹ, và hai đứa em thơ đói rách nơi bãi bồi sông Mã.
Hắn nắm chặt con dao găm trong tay, tự nhủ: Con nước dẫu có chảy xiết đến đâu, bãi bồi dẫu có bùn lầy đến mấy, chỉ cần kiên nhẫn cắm rễ sâu xuống đáy như bụi tre gai, sớm muộn gì cũng sẽ có ngày vươn mình đón ánh mặt trời!
Lời bình của người kể chuyện:
Đỉnh vắng Am Tiên phủ ngập sương,
Phu thuyền lán trại nép dòng Lương.
Phường sang gấm vóc so cung kiếm,
Kẻ khó bùn than dãi nẻo đường.
Lão quản trừng răn roi trượng hiểm,
Thân côi khéo lách giữ phần nhường.
Tre gai cắm rễ sâu lòng đục,
Đợi buổi vươn cao rạng vũ trường.
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.