Bách Việt Hùng Đồ

Quyển 2: Giáo

Chương 24: Sổ Tên

Đăng: 22/10/2026 22:30 2,925 từ 45 lượt đọc

Sáng hôm ấy, Nam Kha xin Cao Cát một thẻ tre. Không phải thẻ tre ghi sổ hậu cần, không phải thẻ tre viết thư mà chỉ là một thẻ nhỏ dài bằng gang tay, rộng hai ngón. Loại thẻ mà Cao Cát dùng ghi số lương thực mỗi ngày, loại rẻ nhất, thô nhất, thứ mà ở thời đại này không ai coi trọng vì nó chỉ là tre chẻ ra phơi khô rồi dùng. Cao Cát đưa cho anh một thẻ mà không hỏi, vì Cao Cát không bao giờ hỏi khi chưa cần hỏi.

Nam Kha ngồi ở góc khu nhóm Việt, lưng dựa vào cọc lều. Anh cầm thẻ tre trên tay, cầm mũi dao nhỏ mà Mị Linh mài cho anh từ lâu và anh khắc.

Chữ đầu tiên anh khắc là tên Dĩnh Khảo Thúc. Không phải tên đầy đủ, không phải "Dĩnh Khảo Thúc đại phu ấp Dĩnh nước Trịnh" mà chỉ ba chữ Dĩnh Khảo Thúc. Anh khắc bằng Nhã ngữ vì đó là ngôn ngữ ông dùng và mũi dao vạch trên tre phát ra tiếng khẽ, sắc, mỏng, kiểu tiếng mà chỉ khi rất yên tĩnh mới nghe. Nam Kha khắc chậm từng nét, vì anh không giỏi viết chữ thời này, tay anh quen cầm bút bi hơn cầm dao, quen viết trên giấy hơn khắc trên tre. Nhưng anh khắc vì ông xứng đáng được ghi và nếu Nam Kha không ghi thì không ai ghi, vì sách sử chỉ chép "Dĩnh Khảo Thúc chết ở trận Hứa" rồi lật trang. Cái lật trang ấy Nam Kha đã làm hồi năm hai đại học, anh lật qua, không dừng, không nghĩ. Vì lúc đó ông chỉ là một cái tên ba chữ trong Tả Truyện rồi sang đoạn tiếp. Bây giờ ba chữ ấy là người đã cho anh bát cơm, đã vỗ vai, đã gãi cằm cười, đã nói "đời ngắn" như nói chuyện thời tiết và anh sẽ không lật trang nữa.

Dưới tên Dĩnh Khảo Thúc, anh khắc thêm hai tên. Hai người Việt. Không phải lính chính quy, chỉ là hai người trong nhóm mà Nam Kha tuyển thêm ở ấp biên phía nam. Hai người ít nói, làm việc chăm, đi theo nhóm vì không có nơi nào khác để đi. Người thứ nhất tên Cật. Anh ta hay ngồi vót tre mỗi tối, vót thành cây trâm nhỏ rồi giắt vào tóc, vì ở quê anh ta đàn ông giắt trâm tre là đã có người chờ ở nhà. Nam Kha không biết anh ta có ai chờ hay không, nhưng anh ta vót mỗi tối, và cây trâm cuối cùng anh ta vót vẫn nằm trong túi áo khi họ khiêng xác anh ta về. Người thứ hai tên Út, trẻ hơn, mới theo nhóm được ba tháng, chưa quen mặt hết mọi người. Khi Lĩnh khiêng xác cậu ta về, Lĩnh hỏi Nam Kha bằng giọng khàn:

"Tên cậu ta là gì? Em quên."

"Út."

Nam Kha nói.

Lĩnh gật đầu im lặng, rồi rời đi. Cái hỏi ấy "tên cậu ta là gì", nó đau không phải vì quên mà vì chưa kịp nhớ. Mà chưa kịp nhớ mà đã phải khiêng thì chiến tranh là vậy, nó không đợi ai quen ai cả.

Họ chết ở cánh phải khi quân Hứa cố phá vây, chết vì giáo đâm và lá chắn không đủ dày. Chết kiểu chiến tranh giết, không hào hùng, không kịch tính, chỉ đau rồi tắt. Không ai ngoài nhóm Việt biết tên họ, không ai ngoài Nam Kha sẽ ghi tên họ, vì hai người ấy không đủ quan trọng để sách sử nhắc đến. Nhưng họ đủ quan trọng để Nam Kha nhớ, vì họ chết vì đi theo anh và anh không quên người chết vì mình.

Ba cái tên, một thẻ tre.

Nam Kha nhìn thẻ tre, nhìn ba cái tên khắc lệch, nét nông nét sâu vì tay chưa quen. Anh nghĩ rằng thẻ tre này sẽ dài ra, sẽ cần thêm thẻ khác, rồi thẻ khác nữa, vì anh đang sống trong thời đại mà người chết nhiều hơn người sống. Mỗi trận đánh sẽ thêm tên, mỗi năm sẽ thêm tên và cuốn sổ tên này sẽ theo anh đến khi nào anh không còn khắc nổi nữa. Ý nghĩ ấy nặng nhưng anh giữ, vì nhớ tên người chết là cách duy nhất anh biết để giữ cho cái chết của họ không vô nghĩa. Nếu anh quên thì ai nhớ.

Chạng vạng, Cao Cát đi qua để thu thẻ hậu cần trong ngày.

Ông dừng lại. Mắt ông rơi xuống thẻ tre trong tay Nam Kha, rơi đúng một thoáng đủ để đọc, vì mắt ông là mắt đã đọc thẻ tre ba chục năm và không cần lâu hơn thế.

Ông không hỏi. Nam Kha đã biết trước là ông sẽ không hỏi.

"Ba tên."

Cao Cát nói.

"Một thẻ."

"Vâng."

"Thẻ này chứa được bảy."

Ông nói như đọc số lương gạo.

"Bảy cái tên ngắn. Sáu nếu tên dài."

Nam Kha không đáp. Anh nhìn xuống chỗ tre còn trống dưới ba cái tên, khoảng trống mà đến lúc này anh vẫn nhìn như một khoảng trống. Bây giờ, sau câu của Cao Cát, anh nhìn nó như một sức chứa.

"Ngươi sẽ cần hơn bảy."

Cao Cát nói. Ông nhặt chồng thẻ hậu cần lên, kẹp vào nách, rồi rời đi và không quay lại và cũng không nói thêm chữ nào.

Sáng hôm sau, ở chỗ Nam Kha nằm, có một bó thẻ tre mới, chẻ đều, phơi kỹ, chừng hai chục cái, buộc bằng một sợi dây da mảnh dài hơn cần thiết. Không ai nói gì về bó thẻ ấy, không ai hỏi ai để nó ở đó.

Nam Kha ngồi nhìn bó thẻ rất lâu. Anh hiểu Cao Cát đã làm gì. Ông đã ước lượng. Ông ước lượng gạo theo số miệng ăn, ước lượng tên theo số cung, ước lượng lương theo số ngày đường. Tối qua, đứng trước một thẻ tre có ba cái tên, ông đã ước lượng thêm một thứ nữa. Ông không nói ra con số ấy. Nhưng ông đã chẻ hai chục thẻ và sợi dây da thì dài hơn hai chục thẻ rất nhiều.

Từ hôm ấy Nam Kha không khắc chung nữa. Mỗi thẻ một tên. Anh chép lại Dĩnh Khảo Thúc sang một thẻ riêng, Cật sang một thẻ riêng, Út sang một thẻ riêng, rồi xâu cả ba vào sợi dây da. Cái thẻ cũ có ba tên khắc lệch thì anh không bỏ, anh xâu nó vào cuối cùng vì nó là cái đầu tiên.

Anh cất xâu thẻ vào trong áo sát ngực, chỗ mà dây thun đỏ nằm ở túi bên. Từ giờ anh mang hai thứ trên người: một sợi dây từ thế giới cũ và một xâu tre từ thế giới này. Một thứ nhắc anh mình từ đâu đến và một thứ nhắc anh mình đã mất gì.

Mộ Dĩnh Khảo Thúc ở phía đông doanh trại, dưới gốc cây lớn mà Nam Kha không biết tên. Cây cao, tán rộng, lá xanh thẫm. Mộ đắp bằng đất, không bia, vì thời này chỉ quý tộc mới có bia. Dĩnh Khảo Thúc là đại phu nhưng mộ ông giản dị, đúng kiểu ông sống: thứ nào không cần thì không có.

Nam Kha đến một mình vào buổi chiều, khi nắng xiên qua tán cây rải xuống mặt đất thành từng vệt vàng mỏng. Anh mang theo một bình rượu nhỏ, rượu mà Lý Trực đưa tối qua, rượu đắng, kiểu rượu mà Dĩnh Khảo Thúc uống mỗi tối sau bữa cơm. Một chén, không hai, vì ông nói "một chén cho vui, hai chén cho ngu". Nam Kha nhớ câu ấy mà gần cười, nhưng không cười được, vì cười ở đây thì sẽ khóc. Anh không muốn khóc, chưa phải lúc, chưa phải chỗ.

Anh quỳ trước mộ, rót rượu xuống đất chậm. Rượu thấm vào đất khô, loang ra thành vệt sẫm, đúng kiểu anh đã rót ở mộ A Sơn sau trận Kinh. Đúng nhịp, đúng cách, vì cái cách rót rượu viếng người chết này anh không học từ sách, anh tự làm lần đầu ở mộ A Sơn. Bây giờ nó đã thành thói quen, thói quen mà anh ước mình không cần có.

Rượu rót hết. Bình trống. Anh đặt bình xuống cạnh mộ rồi ngồi đó rất lâu, nghe gió thổi qua tán cây, nghe lá rơi, nghe tiếng côn trùng bắt đầu kêu vì chiều đã muộn. Anh nói bằng tiếng Việt hiện đại, giọng nhẹ, chỉ đủ cho mình và đất nghe:

"Ông là người tốt nhất tôi gặp ở đây. Và tôi không cứu được ông."

Rồi anh im lặng, gió thổi. Một chiếc lá rơi xuống mộ nhẹ, đậu trên đất mới đắp. Nam Kha nhìn chiếc lá mà nghĩ rằng nếu Dĩnh Khảo Thúc nghe được, ông sẽ gãi cằm, nhìn Nam Kha, rồi nói: "Mặt ngươi lại giống đi đưa ma". Rồi ông cười và cái cười ấy, cái cười mà Nam Kha sẽ không bao giờ nghe lại, nó vang trong đầu anh rõ đến mức gần như thật, gần như ông đang ở đây, gần như đất chưa đắp, gần như mũi tên chưa bay. Nhưng rồi tiếng cười tắt và chỉ còn gió và đất và lá và sự im lặng.

Sau cùng, Nam Kha đứng dậy bước đi và không quay lại.

Nhóm Việt những ngày sau trận Hứa sống trong một thứ im lặng mà Nam Kha không có từ nào để gọi. Không phải im lặng vì buồn, dù họ có buồn thật. Không phải im vì sợ, dù sợ vẫn còn. Là im kiểu nhóm người đã mất một cái gì đó ở giữa mà chưa biết lấy gì lấp vào. Trong lúc chưa lấp thì họ im vì nói ra sẽ phải gọi tên cái thiếu ấy và gọi tên thì nó thật và thật thì đau.

Đăng im lặng hơn bình thường mà bình thường Đăng đã im, nên im hơn bình thường nghĩa là gần như không có. Ông ta ngồi ở chỗ cũ, đại phủ ngang đùi, đang mài nhưng mài ít hơn, chậm hơn. Đôi khi Đăng dừng, tay đặt trên đá mài mà không kéo, mắt nhìn vào lưỡi rìu mà không thấy lưỡi rìu. Khoảng dừng ấy ở Đăng, nó lớn lắm, vì Đăng không bao giờ dừng, Đăng luôn mài hoặc tập hoặc gác hoặc ăn, cơ thể ông ta luôn làm gì đó. Khi nó dừng thì nghĩa là thứ ở trong đầu ông ta nặng đến mức tay không chịu nghe nữa.

Lĩnh gồng vai, cậu lại gồng. Vai cậu đã thả, thả lần đầu tiên kể từ ngày Nam Kha gặp. Bây giờ nó gồng lại, cứng và cao, kiểu gồng phòng thủ, kiểu gồng của đứa trẻ lớn lên trong bạo lực khi thế giới lại đánh nó thêm một phát. Nam Kha nhìn cái gồng ấy mà buồn, buồn không phải vì vai mà vì cậu đã thoát được rồi, đã thả rồi, đã bắt đầu tin rồi, mà giờ lại gồng. Mỗi lần gồng lại là mỗi lần lùi và cậu đã lùi bao nhiêu lần rồi?

A Phúc chạm mảnh vải bà Cả buộc ở cổ tay, chạm nhiều hơn bình thường, ngón tay xoay xoay mép vải, kiểu người sờ bùa hộ mệnh. Cậu ta không nói, cậu vẫn lanh, vẫn chạy, vẫn trinh sát, nhưng mỗi lần dừng, mỗi lần ngồi, tay cậu lại tìm mảnh vải ấy. Nam Kha hiểu rằng cậu đang kiểm tra xem mình còn thuộc về ai không, còn có nơi nào giữ mình không, vì Dĩnh Khảo Thúc chết không phải mất người thân của cậu nhưng là mất chỗ dựa, mất cái thế giới mà cậu vừa bắt đầu quen.

An đang vẽ.

Nam Kha thấy cậu ngồi ở góc lều, cầm que, vẽ trên đất, cái thói quen cậu mang theo từ hồi lên sáu và chưa bao giờ bỏ được nhưng hôm nay cậu không vẽ thỏ. Nam Kha đi ngang liếc nhìn, và anh thấy An đang vẽ một người. Người lớn, vai rộng, tay cầm gì đó dài, có thể là giáo, có thể là mâu, nét nguệch ngoạc, thô, không rõ mặt, nhưng vai rộng. Nam Kha biết đó là ai, vì chỉ có một người vai rộng đến mức vẽ nguệch ngoạc mấy nét mà người ta vẫn nhận ra.

An thấy Nam Kha nhìn thì nhanh tay xóa, lấy chân gạt đất phủ lên hình vẽ, rồi quay đi, mặt đỏ, kiểu đỏ của người bị bắt gặp làm điều gì đó riêng tư. Nam Kha không nói gì và bước qua, vì khoảnh khắc ấy là của An. An vẽ người thay vì vẽ thỏ là cách An nhớ, nhớ bằng tay vì mười bảy tuổi rồi mà cậu vẫn chưa tìm được lời cho thứ này. Cái nhớ ấy trên đất, xóa rồi vẽ lại, xóa rồi vẽ lại, nó là bàn thờ của một thằng bé đã lớn mà vẫn giữ nguyên cách khóc từ hồi lên sáu, nhỏ bé, dễ vỡ, không ai thấy ngoài đất.

Bữa cơm tối hôm ấy, bà Cả nấu. Bà nấu như mọi tối, chậm và đều, lưng hơi còng vì tuổi đã cao và lưng bà mỗi năm thêm một chút, nhưng tay vẫn vững, vẫn xới cơm đều bát, vẫn chia đúng phần. Bà đặt bát trước mặt từng người, Kha, Đăng, Mị Linh, Lĩnh, A Phúc, An, Nghĩa, rồi bà xới thêm một bát.

Bát ấy bà đặt trước chỗ trống. Chỗ mà Dĩnh Khảo Thúc ngồi mỗi khi ông sang ăn cơm với nhóm Việt, chỗ mà ông hay ngồi xếp bằng, trường mâu dựng bên cạnh, gãi cằm, nói "cơm nhóm ngươi hôm nay mặn hơn hôm qua" rồi ăn, ăn đều, ăn kỹ. Bà Cả luôn xới cho ông bát đầy hơn mọi người vì bà biết ông ăn nhiều, vì người vác trường mâu thì phải ăn nhiều. Bà không cần ai nói bà cũng biết, vì bà đã nuôi cơm bao nhiêu người, đã chia bao nhiêu bát. Bà biết ai ăn nhiều ai ăn ít bằng mắt, bằng tay xới, bằng cái bản năng của người đã chia cơm cả đời.

Bát cơm nằm trước chỗ trống, không ai ngồi vào, không ai đụng.

Cơm nguội dần, hơi bốc lên mỏng rồi tắt. Bát cơm nằm đó, trắng, đầy và nguội, trước chỗ ngồi mà không ai lấp vào. Nam Kha nhìn nó mà nghĩ rằng đây là lần thứ hai anh thấy bát cơm trước chỗ trống, lần đầu là bát cơm ASơn sau trận Kinh. Lần này là bát cơm Dinh4 Khảo Thúc và hai bát cơm ấy, ở hai thời điểm khác nhau, hai người khác nhau, nhưng giống nhau một cách tàn nhẫn. Chúng đều trắng, đầy, nguội và trước chỗ ngồi trống.

Nghĩa ngồi cách chỗ trống ấy đúng một người. Cậu không nhìn bát cơm. Cậu nhìn xuống bát của mình và ăn, nhai, nuốt đều đặn, kiểu người đang làm một việc được giao. Nhưng đũa cậu chậm dần, rồi dừng hẳn ở khoảng giữa bát và miệng, dừng đúng vào lúc hơi trên bát kia tắt.

Bà Cả nhìn thấy. Bà không nói gì, vì thứ tiếng bà nói thì cậu không hiểu và thứ tiếng cậu nói thì bà không biết. Bà chỉ với tay qua, cầm lấy bát của cậu, xới thêm một muôi, rồi đặt trở lại trước mặt cậu.

Nghĩa cúi đầu, cúi rất thấp, thấp hơn mức người ta cúi để ăn. Rồi cậu ăn tiếp.

Suốt tối hôm ấy không ai trong nhóm Việt nói với Nghĩa một lời chia buồn nào. Không ai biết đủ chữ để nói. Và Nam Kha ngồi nhìn từ phía bên kia bếp, nghĩ rằng cái không nói ấy hóa ra lại đúng, vì thứ duy nhất họ có để đưa cho cậu là một muôi cơm và họ đã đưa rồi.

Nam Kha ăn cơm chậm, nhìn bát cơm nguội phía đối diện. Anh nghĩ rằng ở thế kỷ 21, người ta nhớ nhanh rồi quên nhanh, nhớ bằng một dòng trên màn hình rồi lướt qua và cái chết bị cuốn trôi trong dòng chảy thông tin trước khi ai kịp thật sự buồn. Nhưng ở đây, một bà già xới bát cơm để trước chỗ trống mỗi tối, chỉ cơm và im lặng. Cái nhớ ấy không phải nhớ cho ai thấy, nó nhớ cho chính mình, nhớ bằng tay, bằng bát, bằng gạo.

Không ai nói gì trong bữa cơm. Ăn xong, mỗi người đi về chỗ mình và bát cơm nguội vẫn nằm đó trước chỗ trống. Gió thổi và đêm xuống, bà Cả ngồi đan lưới bên bếp lửa tàn, lưng còng, tay đều. Bà không nhìn bát cơm nhưng bà biết nó ở đó. Cái biết ấy là đủ, là tang, là nhớ, là tất cả những gì bà có thể làm cho người đã đi.

0