Kỳ Án Kinh Hoàng

Quyển 1: Kỳ Án Trung Quốc

Chương 1: Giọt Máu Trên Trần Nhà

Đăng: 07/11/2026 21:15 5,179 từ 1 lượt đọc
*Lưu Ý: Nội dung dựa trên câu chuyện có thật! Không dành cho người yếu tim hoặc bị ám ảnh với những cảnh tượng đẫm máu.

Xin chào. Câu chuyện mà mình sẽ kể cho các bạn ngày hôm nay diễn ra vào ngày 20 tháng 3 năm 1945.


Đó là một buổi sáng thứ Ba, lúc bảy giờ sáng tại một con hẻm trên đường Tân Xương, thành phố Thượng Hải, Trung Quốc. Nhịp sống thường nhật dần đánh thức từng hộ dân. Những cánh cửa gỗ cọt kẹt mở ra đóng lại, liên tục mang theo hơi thở mộc mạc của cuộc sống thị thành. Con hẻm đó chính là hẻm Giáng Nguyên (hay còn gọi là Tương Viên). Tên của nó được đặt theo tên của Trương Trấn Hưng, một nhân vật nổi tiếng thời bấy giờ. Nằm gần giao lộ Tân Tráp Lộ và Hoàng Hà Lộ, con hẻm này chạy theo hướng Đông - Tây, dài chưa đầy 150 mét. Hai bên san sát hàng chục ngôi nhà cũ kỹ.


Dù bản thân con hẻm chẳng mấy rộng rãi nhưng lại là nơi sinh sống của hàng trăm hộ gia đình, đủ mọi tầng lớp từ thương lái, thợ học việc cho đến vũ nữ,... Buổi sáng, đầu hẻm càng nhộn nhịp hơn bao giờ hết với đủ loại hàng quán đồ ăn vặt, tiệm điểm tâm, tiếng rao hàng lanh lảnh không ngừng. Vì được xây dựng từ lâu đời, mặt đường hẻm được lát bằng những viên đá lồi lõm không đều. Cứ mỗi khi trời mưa, nước đọng khắp nơi, lầy lội vô cùng. Tệ hơn nữa, nếu đúng lúc xe hút phân đi ngang qua, cư dân còn nhân tiện đổ cả thùng vệ sinh cá nhân ra đường theo dòng nước mưa. Khi đó, con hẻm chẳng khác nào một nhà vệ sinh công cộng nồng nặc mùi hôi thối khó chịu. Chính vì thế, hẻm Giáng Nguyên trong mắt người ngoài bị xem là một nơi bẩn thỉu, nhếch nhác.


Tại căn nhà số 85 cuối con hẻm, tầng trệt có một tiệm xem tướng tên là Vương Tạ Dương. Ông chủ Vương Tạ Dương kiếm sống bằng nghề xem tướng, nhưng ông không phải là chủ sở hữu ngôi nhà mà chỉ là người thuê. Ông dùng tầng trệt để kinh doanh, còn không gian tầng trên thì cho thuê lại.


Sáng ngày hôm đó, khi ông và vợ thức dậy vệ sinh cá nhân, vô tình nhìn thấy trên tay vịn cầu thang có một vệt chất lỏng màu đỏ. Ngước lên, họ phát hiện chất lỏng ấy đang nhỏ giọt từ sàn nhà tầng hai xuống. Hai vợ chồng tiện tay xé một mảnh giấy trắng để lau thử mới kinh hoàng nhận ra đó không phải là nước, mà chính là máu. Cả hai giật mình hoảng hốt. Vương Tạ Dương ngây người một lúc rồi vội vàng chạy lên tầng hai gõ cửa phòng. Năm phút sau, cánh cửa từ từ mở ra. Ông vừa liếc vào trong, một luồng khí lạnh đã chạy dọc sống lưng: trong phòng máu loang lổ khắp nơi.


Người thuê nhà, Trương Chi Sĩ, đang đứng đó với hai tay bê bết máu. Bà ta thần sắc đờ đẫn, không hề có bất kỳ động tác né tránh nào, dường như hoàn toàn chìm đắm trong thế giới của riêng mình. Vương Tạ Dương trong lòng bỗng có một dự cảm chẳng lành. Ông đi đến trước chiếc rương da dính nhiều máu nhất định bụng mở ra xem xét. Đúng lúc đó, sắc mặt của Trương Chi Sĩ chợt thay đổi, lao tới ngăn cản. Nhưng đã quá muộn một bước, khi chiếc rương da được mở ra, một cái đầu đẫm máu hiện ra trước mắt. Vương Tạ Dương cảm thấy choáng váng, xây xẩm mặt mày, thân thể chao đảo không đứng vững.


Lúc này, Trương Chi Sĩ đứng bên cạnh chậm rãi cất tiếng. Giọng nói của bà ta khàn đặc như thể cổ họng đã bị chà xát bởi giấy nhám, nói rằng mình đã giết “Đại Khối Đầu”. Đại Khối Đầu chính là chồng bà ta - Trương Vân Dĩnh. Trương Vân Dĩnh năm đó 30 tuổi, người An Huy, cao lớn và nặng tới 100 kg. Thân hình vạm vỡ đã giúp anh ta có được biệt danh này. Anh ta từng là một người tinh ranh tháo vát, từng làm chân chạy việc ở tiệm cầm đồ Hằng Xương gần đó. Sau này tự mở một cửa hàng chuyên bán quần áo cũ và các vật phẩm khác rất hút khách. Tuy nhiên, tính cách của anh ta lại trái ngược hoàn toàn với cái tên “Vân Dĩnh” (có nghĩa là trong sáng, anh tuấn); anh ta là một kẻ thô lỗ, cục cằn và nóng tính.


Về phía người vợ, Trương Chi Sĩ năm đó 29 tuổi, người Đan Dương, Giang Tô. Bà vốn họ Đỗ, là một đứa trẻ mồ côi. Sau khi được nhà họ Chu nhận nuôi làm nha hoàn thì đổi sang họ Chu, tên đầy đủ là Chu Xuân Lan. Gia đình họ Chu đối xử với bà không tệ, chưa từng có hành động khinh thường nào, thậm chí còn đứng ra tìm cho bà một mối lương duyên. Cuộc hôn nhân của Trương Chi Sĩ và Trương Vân Dĩnh chính là do gia đình họ Chu vun vén. Thời điểm đó, Trương Vân Dĩnh thấy bà có dung mạo xuất chúng, ít nói lại cùng tuổi nên vui vẻ đồng ý. Còn Trương Chi Sĩ, thân phận chỉ là một nha hoàn ăn nhờ ở đậu, căn bản không có quyền từ chối, chỉ có thể thụ động chấp nhận. Cứ thế bà lấy chồng một cách lơ mơ rồi đổi họ theo chồng, trở thành Trương Chi Sĩ. Năm đó bà mới 21 tuổi. Trong mắt người ngoài, dù hai vợ chồng không thể nói là tình sâu nghĩa nặng, nhưng cũng không đến mức phải ra tay sát hại nhau.


Khoảng 1 giờ trước khi phát hiện vụ việc, vào lúc 6:00 sáng, Vương Tạ Dương trong lúc nửa tỉnh nửa mê đã loáng thoáng nghe thấy trên lầu có tiếng động lạ và tiếng hét. Lúc đó ông cứ tưởng là cháy nhà liền theo phản xạ chạy lên lầu, đứng ngoài cửa hỏi xem có chuyện gì. Trương Chi Sĩ không mở cửa mà chỉ đáp vọng ra rằng Trương Vân Dĩnh đang nằm mê. Ông Vương dù cảm thấy kỳ lạ nhưng không tiện hỏi nhiều, bèn xuống lầu ngủ tiếp. Nào ngờ lại xảy ra chuyện kinh hoàng đến vậy.


Chưa hết bàng hoàng, ông vội vàng dặn vợ trông chừng Trương Chi Sĩ cẩn thận, sau đó chạy một mạch đến sở cảnh sát phụ cận. Sở dĩ ông căng thẳng như vậy là vì lo sợ mình sẽ bị liên lụy. Tại Thượng Hải lúc bấy giờ, các khu dân cư lân cận sẽ thông qua việc bảo lãnh và giám sát lẫn nhau để kiểm soát hành vi vi phạm pháp luật. Nếu phát hiện có người vi phạm, nhất định phải báo cáo ngay lập tức, nếu không sẽ bị liên đới trách nhiệm.


Cảnh sát nhận được tin báo đã nhanh chóng có mặt tại hiện trường, phong tỏa hai đầu hẻm Giáng Nguyên và bắt đầu công tác điều tra. Căn phòng nơi vợ chồng họ Trương sinh sống tối om, tràn ngập một bầu không khí rùng rợn. Trên giường, trên sàn nhà, thậm chí trong cả bô đựng đờm cũng đầy vệt máu. Rõ ràng đây là hiện trường của một vụ án mạng kinh hoàng. Thi thể của Trương Vân Dĩnh đã bị phân thành 16 mảnh và được nhét trong một chiếc rương da lớn. Cổ họng, hai cánh tay, ngón tay và bụng của nạn nhân đều có nhiều vết dao.


Khi Trương Chi Sĩ bị áp giải xuống lầu, trên người bà ta chỉ mặc một bộ quần áo mỏng manh. Với giọng run rẩy gần như van nài, bà ta nói với cảnh sát: “Thưa ông, làm ơn giúp tôi với”. Lúc đầu, cảnh sát cho rằng bà ta đang cầu xin sự khoan hồng cho tội ác của mình, nhưng khi nhìn thấy dáng vẻ run rẩy vì lạnh, họ mới hiểu ra. Cảnh sát lấy một chiếc áo khoác cho bà mặc vào, nhờ đó bà mới giữ được chút thể diện.


Trên đường áp giải, đông đảo cư dân gần đó đổ xô đến vây xem. Một cậu bé tuổi vị thành niên khi đó, nhiều thập kỷ sau khi được phỏng vấn, vẫn nhớ rõ ràng khung cảnh ấy. Với sự tò mò mãnh liệt, cậu đã chen lấn khó khăn để lên tuyến đầu xem náo nhiệt, nhưng lại bất ngờ nhìn thấy chiếc rương da đựng thi thể đang được vận chuyển đi. Cảnh tượng đó đã gây ra một cú sốc lớn cho tâm hồn non nớt của cậu, khiến cậu không khỏi thốt lên: “Sao Trương Chi Sĩ có thể tàn nhẫn đến vậy? Ra tay tàn độc với chồng của mình như thế!”


Khi đến sở cảnh sát, Trương Chi Sĩ tỏ ra bình tĩnh, thẳng thắn thừa nhận việc mình đã giết chồng. Khi được hỏi về nguyên nhân, bà ta nói: “Chồng tôi đối xử với tôi quá hung bạo, quá tàn nhẫn. Tôi hận anh ta nên phải giết anh ta”. Bà cũng khẳng định rằng toàn bộ vụ án đều do một mình bà gây ra, không có ai khác tham gia. Tuy nhiên, cảnh sát không tin lời khai này bởi nạn nhân có thân hình cao lớn vạm vỡ, trong khi Trương Chi Sĩ lại vô cùng nhỏ bé (chỉ cao 1m50 và nặng 40 kg). Sự chênh lệch lớn về thể chất khiến việc gây án một mình trở nên khó tin. Họ phỏng đoán rằng Trương Chi Sĩ có tình nhân, và người tình đó đã hỗ trợ bà ta thực hiện tội ác.


Ở một diễn biến khác, hiện trường vụ án đã bị các phóng viên nghe tin vây kín đông nghịt, nước chảy không lọt. Dù ngôi nhà đã bị phong tỏa, họ vẫn tìm cách khai thác thông tin từ hàng xóm. Sự nghi ngờ của truyền thông cũng trùng khớp với cảnh sát: thiên về phỏng đoán bà ta và người tình gây án. Để thu hút sự chú ý, họ đã thổi phồng những hành vi được cho là “không đứng đắn” của Trương Chi Sĩ, chỉ trích bà ta không giữ đạo làm vợ, xây dựng hình tượng bà thành một “độc phụ”. Thậm chí, để tăng kịch tính, họ còn bịa đặt rằng người báo án Vương Tạ Dương là một người mù, và sở dĩ phát hiện ra án mạng là vì máu trực tiếp nhỏ giọt vào mặt ông ta.


Trong một thời gian dài, vụ án trở thành chủ đề nóng hổi được dư luận Thượng Hải bàn tán xôn xao. Mọi người sau khi đọc báo đều thi nhau chỉ trích phẩm hạnh của Trương Chi Sĩ. Tin đồn không biết từ đâu lan truyền rằng Trương Chi Sĩ sẽ bị đem đi diễu hành công khai để bêu riếu, thậm chí cả lộ trình diễu hành cũng được vẽ ra có vẻ rất đáng tin. Tin đồn này làm tắc nghẽn các tuyến đường trong thành phố vì đám đông tụ tập, ngóng cổ chờ đợi để nhìn thấy dung nhan kẻ sát nhân. Mãi cho đến khi cảnh sát phải ra mặt đính chính, tin đồn mới lắng xuống.


Nhưng sự thật có đúng như những gì truyền thông và cảnh sát đang nghĩ?


Từ góc nhìn hiện đại, mọi người có thể dễ dàng nhận ra những điều bất hợp lý, nhưng trong thời đại thông tin khép kín bấy giờ, dù Trương Chi Sĩ có ngàn lời muốn nói cũng không thể tự biện minh.


Năm đầu tiên sau khi kết hôn, người chồng Trương Vân Dĩnh vẫn chưa bộc lộ hoàn toàn bản tính thật. Lúc đó anh ta làm việc cẩn thận, chu đáo, lời nói cũng có vài phần ôn hòa. Điều này khiến Trương Chi Sĩ - người đã phải chịu cảnh cô đơn khổ cực từ nhỏ - cảm nhận được sự ấm áp và có chỗ dựa. Nhưng không lâu sau, dưới sự xúi giục của bạn bè xấu, Trương Vân Dĩnh dính vào cờ bạc, thường xuyên không về nhà vào ban đêm. Cùng với việc cửa hàng đồ cũ phá sản, anh ta trở nên bạo lực. Mọi khoản thu nhập trong gia đình đều nằm gọn trong tay anh ta. Anh ta thường xuyên ra ngoài ăn chơi trác táng, số lần mang tiền về nhà trong một tháng chỉ đếm trên đầu ngón tay. Việc đánh đập vợ như cơm bữa, thậm chí đánh ngay cả ở nơi công cộng mà không hề kiêng dè.


Điều khiến Trương Chi Sĩ càng thêm phẫn nộ là thói trăng hoa của chồng. Trương Vân Dĩnh đã tư thông với một nha hoàn khác đến mức cô gái đó mang thai. Khi người nha hoàn ấy bị chủ nhà đuổi khỏi cửa, bước đường cùng phải tìm đến Trương Vân Dĩnh nương tựa dù cái thai đã 8 tháng sắp sinh. Bỉ ổi thay, Trương Vân Dĩnh lại ngang nhiên ép Trương Chi Sĩ phải thay anh ta giải quyết mớ hỗn độn này. Bất đắc dĩ, bà đành đưa người nha hoàn đến bệnh viện, ở bên cạnh chăm sóc khi sinh nở. Sau đó, bà lại tận tâm tìm cho mẹ con họ một gia đình tốt, xem như tạm thời xoa dịu vụ bê bối. Bà đã khóc, đã khuyên nhủ nhưng người chồng vẫn thờ ơ.


Bị ràng buộc bởi những quan niệm truyền thống, Trương Chi Sĩ không dám và cũng chưa từng nghĩ đến việc ly hôn. Để sống sót, bà tự mình ra ngoài kiếm tiền. Bà từng nhận lời giới thiệu của hàng xóm đến nhà máy thuốc lá gần đó làm việc. Mỗi ngày, bà đi làm từ sáng sớm đến tối mịt, cực khổ nhưng ít ra cũng được ăn no. Tuy nhiên, thời đại đó vẫn nặng tư tưởng “đàn ông việc ngoài, đàn bà nội trợ”; phụ nữ ra ngoài làm việc thường bị coi là biểu hiện của gia cảnh nghèo hèn. Biết chuyện, Trương Vân Dĩnh cảm thấy mất mặt liền nổi trận lôi đình. Trong cơn giận, anh ta còn ác ý vu khống vợ có tình nhân. Anh ta kiên quyết cấm bà ra ngoài, không tiếc giá nào để ngăn cản bà đi làm, đồng thời vẫn khư khư giữ toàn bộ tài sản. Sau một lần say rượu, anh ta đánh Trương Chi Sĩ thừa sống thiếu chết, khiến bà mấy ngày không thể xuống giường.


Bất đắc dĩ, Trương Chi Sĩ đành phải nghỉ việc, mang những đồ vật có giá trị trong nhà đi bán hoặc cầm cố để duy trì chi tiêu. Bà vay mượn khắp hàng xóm láng giềng đến mức không còn ai dám cho vay. Cuối cùng, bà sống lay lắt qua ngày bằng cách đi làm thuê bưng bê ở cửa hàng đồ cũ, tiệm bánh bao hay các quán ăn sáng. Khắp nơi đều lưu lại sổ nợ của bà. Sự hành hạ thể xác và áp lực tinh thần kéo dài khiến tâm lý Trương Chi Sĩ ngày càng tồi tệ.


Tháng 10 năm 1944, sau khi vay tiền bất thành, bà đã lén lấy một chai thuốc sát trùng bọc mang về nhà và uống cạn để tự tử. May mắn thay, hàng xóm phát hiện kịp thời đưa đi cấp cứu nên giữ được mạng sống. Chứng kiến cảnh ngộ thảm thương ấy, hàng xóm ai cũng động lòng trắc ẩn. Họ tự nguyện quyên góp tiền để giúp bà mở một quầy buôn bán nhỏ, nhưng không ngờ số tiền từ thiện đó cuối cùng lại bị Trương Vân Dĩnh cướp đi nướng vào sòng bạc.


Đã bị dồn vào đường cùng, Trương Chi Sĩ đành vắt óc tìm cách khác. Vốn nấu ăn ngon, bà tính mở một quầy bán món sườn cốt lết khoai tây chiên ở ngay lối ra vào hẻm Giáng Nguyên. Suy nghĩ này thắp lên trong bà tia hy vọng sống. Bà vui vẻ đem cầm cố chiếc áo sườn xám màu đỏ của mình để lấy tiền mua một con dao thái thịt loại lớn, chuẩn bị cho việc chặt sườn bán hàng.


Khoảng 3:00 sáng ngày 20 tháng 3, Trương Vân Dĩnh say khướt trở về nhà. Thấy chồng có vẻ đang vui, Trương Chi Sĩ lấy hết can đảm nói ra ý định buôn bán. Không ngờ anh ta chửi rủa thậm tệ, lớn tiếng đe dọa rằng: dù bà có kiếm được tiền, anh ta cũng sẽ mang tất cả đi đánh bạc cho bằng hết. Nói xong, anh ta lăn ra ngáy o o ngủ thiếp đi.


Nhìn thấy mọi con đường mưu sinh đều bị chặn đứng tàn nhẫn, sự uất ức trong lòng Trương Chi Sĩ bùng nổ không thể kiềm nén. Lúc đó, một giọng nói ảo giác vang lên trong đầu xúi giục bà đi giết người, bảo rằng “giết rồi sẽ được siêu sinh”. Sau 3 tiếng đồng hồ đấu tranh tư tưởng dữ dội, vào lúc 6:00 sáng, bà cầm con dao mới mua chém mạnh xuống người Trương Vân Dĩnh đang ngủ say.


Sau khi giết chồng, không biết phải xử lý thi thể ra sao, bà bèn học theo những tình tiết trong các vở kịch thời đó: phân xác nạn nhân thành 16 mảnh rồi nhét vào một chiếc rương da để tiêu hủy bằng chứng. Chiếc rương đó ban đầu dùng để đựng quần áo của hai vợ chồng, nhưng vì Trương Vân Dĩnh tiêu xài hoang phí, quần áo đã bị đem đi cầm đồ sạch nên rương trống rỗng. Chẳng ngờ rằng máu rỉ qua khe rương, nhỏ giọt xuống lầu dưới khiến vụ án bị phơi bày.


Khi bị cảnh sát thẩm vấn, dù bà đã kể chi tiết mọi bi kịch đời mình, họ vẫn không tin một phụ nữ yếu ớt có thể gây án một mình. Vì bị ép cung quá mức, trong một lần hỏi cung, bà đã thay đổi lời khai, nói rằng có người hàng xóm tên Hạ Hiển Huệ (biệt danh Hạ Đại Ma Tử) đã giúp đỡ. Bà bịa ra rằng hai người có quan hệ bất chính “tình trong như đã mặt ngoài còn e”. Cảnh sát lập tức điều tra thì phát hiện đúng là ngay sau vụ án, Hạ Hiển Huệ đã rời Thượng Hải nên vội vàng truy bắt. Bị bắt lại, anh ta thừa nhận có qua lại với Trương Chi Sĩ nhưng kiên quyết phủ nhận việc giết người.


Chưa kịp điều tra rõ ràng, Trương Chi Sĩ lại đổi lời khai sang một người khác là Hà Bảo Ngọc (biệt danh Tiểu Lĩnh Ba) - một người bạn của Trương Vân Dĩnh. Bà khai đã bàn bạc với Hà Bảo Ngọc, tự tay mở cửa cho anh ta vào chém chồng, sau đó bà bồi thêm nhát dao trút giận. Hà Bảo Ngọc bị bắt, sợ hãi tột độ, lắp bắp phủ nhận hoàn toàn. Cuối cùng, Trương Chi Sĩ mới bật khóc đính chính lại: cả hai người kia đều không liên quan. Bà khai tên Hạ Hiển Huệ là do bị cảnh sát đánh đập ép cung, đầu óc không tỉnh táo nên bộc phát khai bừa; còn đổ tội cho Hà Bảo Ngọc là vì bà quá oán hận gã này (hắn là kẻ thường xuyên xúi giục chồng bà đi đánh bạc, làm chồng bà hư hỏng). Cảnh sát điều tra lại và xác nhận cả hai người đàn ông trên đều có bằng chứng ngoại phạm.


Hơn một tháng sau, vào tháng 5 năm 1945, vụ án chính thức được đưa ra xét xử. Trương Chi Sĩ mặc chiếc áo sườn xám màu xám, thân hình gầy gò, gương mặt tiều tụy nhưng trang phục chỉnh tề. Bà bình thản kể lại chi tiết quá trình gây án, trả lời rành mạch mọi câu hỏi. Tòa án nhận định rằng bị cáo hành động có logic chặt chẽ, hoàn toàn tỉnh táo khi phạm tội nên phải chịu trách nhiệm hình sự. Cuối cùng, tòa tuyên án tử hình với 16 chữ đanh thép: “Phòng vệ thất bại, tình không thể tha, phân xác thành mảnh, tàn nhẫn vô cùng”. Hai vợ chồng ông Vương Tạ Dương vì báo án kịp thời đã nhận được tiền thưởng.


Trương Chi Sĩ bị giam tại nhà tù Đề Lan Kiều, Thượng Hải chờ ngày thi hành án.


Về kết quả này, dư luận chia thành hai phe. Một phe kiên định quan niệm “giết người đền mạng”, hoan nghênh phán quyết và coi Trương Chi Sĩ là “Phan Kim Liên thời hiện đại”. Phe còn lại bày tỏ sự cảm thông sâu sắc, cho rằng bà là nạn nhân đáng thương của bạo lực gia đình, việc giết chồng chỉ là sự phản kháng tuyệt vọng khi bị dồn vào đường cùng. Họ cho rằng án tử hình là quá khắc nghiệt. Trong số những người ủng hộ bà, có rất nhiều nhà văn và tri thức. Nổi bật nhất là nữ văn sĩ Tô Thanh (một trong Tứ đại tài nữ của văn đàn bấy giờ). Trong bài viết “Biện hộ cho người giết chồng”, Tô Thanh để lại những lời lẽ đanh thép: “Chỉ những người năm này qua năm khác chịu đựng sự nhục nhã mới nảy sinh lòng độc ác. Nếu vạn người đổ máu, đó là anh hùng. Nếu một người đổ máu, chẳng lẽ phải coi là tội phạm?”. Bà cũng vạch rõ gốc rễ vấn đề: “Cô ấy cũng đã thử làm điều dại dột để tự tử nhưng không chết được, nên mới chỉ còn cách giết người mà thôi”.


Bài báo biến Tô Thanh thành tâm điểm chỉ trích, nhưng bà không chùn bước. Nữ thi sĩ Quan Lộ cũng vào cuộc với bài “Trương Chi Sĩ và Phan Kim Liên”, sắc bén phản bác: “Gái dâm đều đáng ghét, vậy tại sao đàn ông dâm đãng lại không thể giết?”. Tiếng nói đồng cảm lớn dần như hiệu ứng quả cầu tuyết lăn. Dưới áp lực dư luận, án tử hình liên tục bị trì hoãn. Nhiều luật sư danh tiếng cũng tự nguyện đứng ra bào chữa miễn phí nhằm tìm cho bà một tia hy vọng sống.


Nghe được tiếng nói thấu hiểu từ công chúng, Trương Chi Sĩ thay đổi thái độ tiêu cực, từ bỏ ý nghĩ chờ chết và bắt đầu làm đơn kháng cáo. Bà cải tạo rất tốt trong tù. Nhờ khéo léo bẩm sinh, các tác phẩm thêu thùa của bà đạt chất lượng cao, trở thành tấm gương mẫu mực. Một bước ngoặt khác xảy ra khi một nữ tu già của nhà thờ Thiên Chúa giáo làm chứng tại tòa phúc thẩm rằng: Trương Chi Sĩ đang mang thai, đứa bé là vô tội nên phải đợi sinh nở xong mới được tử hình (thực tế đây là một lời nói dối cứu mạng của vị nữ tu, và với y tế thời đó rất khó kiểm chứng). Nhờ vậy, án tử hình tiếp tục bị hoãn.


Đợi mãi không thấy Trương Chi Sĩ sinh con thì đến tháng 8 năm 1945, Nhật Bản tuyên bố đầu hàng vô điều kiện. Các cơ quan tư pháp cũ tan rã, phán quyết trước đó bị coi là vô hiệu. Tháng 8 năm 1946 (một năm rưỡi sau khi vụ án xảy ra), tòa án cấp cao Thượng Hải mở phiên xét xử lại. Trương Chi Sĩ mặc chiếc áo sơ mi xanh tiều tụy, khai rằng việc giết người không có kế hoạch từ trước mà chỉ là bộc phát khi vô tình nhìn thấy con dao thái sườn cốt lết. Nhờ sự hướng dẫn của luật sư, lời khai của bà có lợi hơn rất nhiều. Luật sư thậm chí còn tung tin gây sốc rằng nạn nhân Trương Vân Dĩnh từng làm tay sai cho Nhật Bản, việc bà giết hắn nên được coi là “lập công”. Dù cả phòng dự khán bật cười và chuyện này không có cơ sở kiểm chứng, nhưng nó cho thấy nỗ lực tột cùng của luật sư để cứu sống bà.


Tháng 9 năm đó, tòa vẫn tuyên án tử hình. Trương Chi Sĩ tiếp tục kháng cáo. Trong 3 năm ròng rã, sự bền bỉ của các luật sư và ngòi bút của các văn sĩ đã dệt nên một mạng lưới bảo vệ vững chắc cho bà. Cuối cùng, bà được giảm án xuống còn 15 năm tù giam. Nhận được kết quả, Trương Chi Sĩ khóc nức nở vì vui sướng như thể chết đi sống lại.


Năm 1949, bà được chuyển đến nông trường Thượng Hải ở Đại Phong, Giang Tô để thi hành án. Tại đây, bà từng viết thư mong Vương Tạ Dương bảo lãnh cho mình nhưng ông không dám nhận lời. Sau khi mãn hạn tù, Trương Chi Sĩ (lúc này đã đổi tên thành Chu Huệ Trân) ở lại định cư tại Đại Phong. Xã hội mới đã sắp xếp cho bà làm việc tại một công ty thổ sản. Tại đây, bà quen người đồng nghiệp kém mình 2 tuổi tên là Nghiêm Thiếu Hoa. Dù biết rõ quá khứ của bà, anh vẫn không bận tâm. Hai người kết hôn năm 1959. Năm đó bà 46 tuổi. Hạnh phúc đến muộn màng ở tuổi xế chiều nhưng vô cùng viên mãn.


Vì vụ án thiếu tài liệu hình ảnh, nhiều lời đồn đại tam sao thất bản đã nảy sinh, thậm chí có tin đồn bà đã bị treo cổ ở nhà tù Đề Lan Kiều. Năm 1990, phóng viên Từ Bình của báo Bến Thượng Hải quyết tâm đi tìm sự thật. Lần theo manh mối, anh gõ cửa một căn nhà nhỏ ở Đại Phong. Mở cửa là một bà lão nhỏ bé, nhanh nhẹn, mặc chiếc áo vải cotton xám kiểu cũ. Dù đã 74 tuổi, nếp nhăn in hằn dấu vết thời gian, nhưng đôi mắt bà vẫn toát lên vẻ kiên cường và nhân hậu. Đó chính là Chu Huệ Trân (Trương Chi Sĩ).


Chu Huệ Trân sống bình yên với số tiền lương hưu hơn 100 tệ, đủ để có cuộc sống ấm no. Vì không có con ruột, bà dành tình yêu vô bờ bến cho trẻ em. Suốt những năm tự do, bà đã nhận nuôi rất nhiều con gái, con trai nuôi để khỏa lấp nỗi cô đơn. Trong lúc trò chuyện, bà bế một cậu bé trên tay, âu yếm ngâm nga bài đồng dao. Phóng viên Từ Bình không khỏi cảm thán: “Ai có thể liên hệ bà lão hiền lành nhân hậu này với người phụ nữ từng bị gán mác độc phụ, tự tay phân xác chồng năm xưa?”


Người chồng thứ hai của bà đã qua đời vì bệnh tật trước đó vài năm. Khi nhắc đến ông, ánh mắt bà ngập tràn vẻ dịu dàng, nói rằng bảo vật bà trân trọng nhất là bức ảnh cưới của hai người đặt trên tủ đầu giường. Tuy nhiên, khi hỏi về vụ án năm 1945, bà chìm vào im lặng rất lâu. Bà không muốn nhớ lại nửa đời người đầy đau khổ ấy, chỉ khẽ đáp: “Tôi muốn sống đến già, đối xử tốt với bản thân. Tôi giết người là một trận chiến cuối cùng để cầu sinh. Không ai bảo vệ tôi, chỉ có mình tự cứu lấy mình”.


Sau đó, phóng viên Từ Bình quay lại hẻm Giáng Nguyên ở Thượng Hải. Anh may mắn gặp bà Trương, nhân chứng sống ở tầng ba thời đó. Bà tiết lộ một chi tiết bất ngờ: người đầu tiên phát hiện vết máu không phải Vương Tạ Dương mà chính là bà. Khi đi lấy nước, bà chạm tay vào vết máu trên tay vịn cầu thang, thấy điềm chẳng lành nên mới báo cho Vương Tạ Dương biết. Từ Bình cũng cho những người dân cũ trong hẻm xem bức ảnh tuổi già bình yên của Chu Huệ Trân. Mọi người đều tròn mắt ngạc nhiên rồi thở dài cất tiếng tiếc nuối, bởi suốt mấy chục năm, bà chưa một lần quay lại chốn cũ đau thương này.


Theo thời gian, khu vực đường Tân Xương và hẻm Giáng Nguyên đã bị giải tỏa, nhường chỗ cho những tòa nhà cao tầng. Diện mạo nhếch nhác ngày xưa không còn, chỉ để lại những dấu ấn lịch sử. Vụ án mạng kinh thiên động địa này chưa bao giờ phai nhạt. Nữ nhà văn Lý Ngang của Đài Loan đã lấy nguyên mẫu vụ án sáng tác nên cuốn tiểu thuyết danh tiếng “Sát phu”, sau này được dịch ra nhiều ngôn ngữ và chuyển thể thành phim. Đến thời điểm hiện tại, bộ phim điện ảnh “Tương Viên Lộng huyền án” (Vụ án hẻm Tương Viên) sắp ra mắt, tiếp tục đưa câu chuyện bi thảm này trở lại tầm mắt công chúng. Tuyến đường Sạ Phổ - nơi quay phim - cũng trở thành địa điểm check-in cực hot thu hút đông đảo người dân ghé thăm.


Trương Chi Sĩ năm xưa đã băm vằm sự tuyệt vọng thành 16 mảnh, nhưng không thể thoát khỏi sự ràng buộc nghiệt ngã của lễ giáo phong kiến. Câu chuyện của bà phơi bày sự bi thảm và hành trình đấu tranh của phụ nữ thời cũ dưới chế độ phụ quyền. May mắn thay, sự tiến bộ của xã hội cuối cùng đã giương chiếc khiên đỡ cho bà một nhát dao oan nghiệt. Dù đã trôi qua hàng thập kỷ, tiếng vọng từ quá khứ vẫn nhắc nhở chúng ta về ý nghĩa thực sự của công lý và lòng nhân ái, rằng đôi khi, sự sống sót của một cá nhân chính là tấm gương phản chiếu một xã hội đang dần thức tỉnh.


Tất nhiên, đặt trong bối cảnh xã hội văn minh hiện tại, hành vi tước đi sinh mạng của người khác luôn là tội ác không thể biện minh. Nhưng nhìn lại lịch sử, người ta không khỏi xót xa cho một kiếp người. Câu chuyện xin được khép lại tại đây. Chúc các bạn một ngày bình an!


0