Chương 4: Tránh! Chém! Trốn!!!
Huyền Sử Đại Việt
Mục lục
4 chươngCuộn, vuốt hoặc dùng hai nút để xem thêm Đã tải 4/4 chương
Sương trên sông Hồng đặc như nước vo gạo, bám vào lông mày và nhòe tầm nhìn. Trần Mục đứng ở mép lũy đất Tây Phù Liệt, cái lũy ven sông nằm phía nam thành Đại La, mắt nhìn ra sông. Trước mặt hắn là hào nước đen ngòm, tĩnh lặng dưới lớp sương mù. Chỉ có một cây cầu tre mỏng manh bắc ngang, dẫn từ bãi ruộng trũng vừa gặt xong vào cổng gỗ lim sứt mẻ. Bờ lũy bên kia đã sạt lở từ trận trước, để lộ những cọc tre gãy lởm chởm, đầu cọc đã đen vì nắng mưa, chưa ai sửa.
Ở bên tả là bãi sậy ven sông, rung rinh nhẹ trong gió sớm. Bên kia sông, phía trại quân Hoa Lư, khói bếp mờ nhạt bay lên, trộn lẫn vào sương. Tiếng kháo nhau của lính vang khe khẽ trong bóng tối sắp tan.
“Quân Hoa Lư từng đánh lũy này một lần,” gã lính già bên cạnh thì thào, ánh mắt liếc nhìn đống cọc gãy. “Họ thua rồi bỏ đi. Nay quay lại là muốn rửa nhục.”
Trong sân lũy, không khí nặng trĩu mùi hương trầm và thịt luộc. Thầy cúng phe Nguyễn Siêu đang bẻ hai xương đùi gà, soi những lỗ nhỏ trên xương rồi cắm que tre vào để đoán giờ. Cả tướng lẫn lính đều nín thở chờ đợi. Một số người lính tranh nhau chấm máu gà lên trán, nhét bùa giấy vào búi tóc, ngậm gạo sống trong miệng cho hồn khỏi lạc. Một đứa trẻ hắt hơi to lúc thầy đang khấn, lập tức bị cả toán đánh tóe máu mũi vì coi đó là điềm gở.
Ngoài bờ đê, một thầy cúng khác đốt những hình nhân rơm viết tên quân Đinh. Lão nhảy quanh đống lửa, tóc xõa, giọng lúc rít lúc gầm:
“Hồn mày là rơm, xác mày là bùn!
Nước sông Cái nuốt, cá chép rỉa xương!
Đứa nào mang tên trên hình nhân này,
ngã xuống sông, không ai vớt, không ai chôn!
Ma đói khoét mắt, ma khát hút máu!
Ba hồn bảy vía, tao trói cả vào lửa!”
Lính đứng gần lùi ra, không ai dám nhìn thẳng vào đống lửa.
Một tên thám mã ướt sũng từ bến sông chạy vào, quỳ trước sập: “Bẩm, bên kia bốn mươi lăm thuyền, chưa kể bè.” Quẻ xương gà đã ứng, mà Nguyễn Siêu vẫn chưa giơ tay. Ông ngồi giữa mấy nhà sư chùa Bạch Liên mặc áo nâu sẫm, cổ họ đeo những chuỗi tràng hạt trắng bằng xương. Ông nhìn sang bờ bên kia một lúc lâu, rồi quay sang vị sư già ngồi đầu hàng, người duy nhất có chuỗi tràng hạt dài chấm gối.
“Lần trước Nguyễn Bồ sang với ba mươi thuyền, ta giữ được. Lần này bốn mươi lăm, chưa kể bè. Hoa Lư đã nuốt Đỗ Động, nuốt Bố Hải Khẩu, giờ quay sang ta. Thầy bảo quẻ đã ứng giờ, nhưng quẻ là xương gà, còn nỏ Hoa Lư là sắt.” Ông cười nhạt. “Ta không sợ chết. Ta sợ chết vô ích, nằm lại ở cái bãi bùn kia cho thằng lính Đinh nào đó xách đầu về lĩnh thưởng.”
Vị sư không mở mắt, ngón tay vẫn lần từng hạt xương. “Sứ quân lo cái thân này làm gì. Nhục thân là cái túi da đựng máu mủ, rách lúc nào thì rách. Có rách ở bãi kia thì làm thần cũng không tệ.”
“Làm thần.” Nguyễn Siêu nhắc lại, giọng như người nếm một thứ rượu lạ. “Thần gì? Thầy đừng bảo ta làm cái tượng gỗ ngồi trong miếu cho người ta cắm hương. Ta đánh trận cả đời, không quen ngồi yên.”
Vị sư khẽ cười. “Không phải tượng gỗ. Quanh tòa Phật có tám bộ chúng không phải người, đứng mà giữ pháp, gọi là Bát Bộ Chúng: Thiên chúng, Long chúng, dạ xoa, càn thát bà, a tu la, ca lâu la, khẩn na la, ma hầu la già. Mỗi bộ có chúa, có quyến thuộc, có đất riêng mà cai quản. Long chúng là bộ rồng, giữ mưa gió sông ngòi.”
“Tám bộ.” Nguyễn Siêu nhếch mép. “Thầy định cho ta làm loài nào? Làm dạ xoa canh cửa cho chùa thầy chắc?”
Vị sư mở mắt, nhìn thẳng xuống vai áo Nguyễn Siêu, nơi lớp vải che một vệt vảy xanh chạy từ vai xuống ngực. “Chỉ có người có long văn mới xứng đứng đầu Long chúng, một trong Bát Bộ Chúng của Tịnh Nghiệt Như Lai.”
Nguyễn Siêu bất giác đưa tay lên vai, ấn lên chỗ vải ấy. Rồi ông bỏ tay xuống, nheo mắt, lần này không phải cái nheo mắt của kẻ mặc cả mà của người thật sự tò mò. “Tịnh Nghiệt Như Lai. Ta chưa từng nghe Phật pháp có danh hiệu ấy.”
Lần đầu tiên từ sáng, vị sư già ngồi thẳng lưng. Ngón tay ông thôi lần hạt, giọng không còn đều đều như tụng mà trầm xuống, chậm và nặng, như người đang khấn trước một thứ chỉ mình ông thấy:
“Thế Tôn có vô lượng danh hiệu. Mỗi cõi đất, mỗi giống người, Ngài hiện ra với một tôn hiệu khác, như trăng in xuống trăm dòng nước thành trăm vầng trăng, mà trăng thì chỉ một. Người phương Bắc gọi Ngài là Thích Ca Mâu Ni, thờ Ngài trong điện vàng. Còn ở cõi này, nơi đất uống máu nhiều hơn uống mưa, Ngài hiện ra để rửa cái nghiệt ấy, nên gọi là Tịnh Nghiệt Như Lai. Bỉ Ngạn Liên Chủng Kệ, bộ kinh sách chí cao mà chùa ta cung phụng đời đời, đã chép ngày Ngài hiện thân: khi bờ bên kia nở hoa, khi xương phơi trắng đồng, thì tòa sen dựng lên mà Ngài ngự xuống.”
Ông nhìn thẳng vào mắt Nguyễn Siêu.
“Sứ quân đứng đầu một bộ trong Bát Bộ Chúng thì tên sứ quân sẽ được chép vào kinh sách ấy, đọc lên mỗi sáng mỗi tối, đời này qua đời khác. Đất của sứ quân rồi sẽ thuộc về kẻ khác, lính của sứ quân rồi sẽ chết hết. Nhưng tên trong kinh sách thì không ai cướp được. Vạn dân sẽ thắp hương cho sứ quân mà không cần biết sứ quân từng là ai.”
Nguyễn Siêu im một lúc lâu. Rồi ông bật cười, tiếng cười khô. “Thầy nói hay hơn cả thầy cúng của ta.” Ông gõ ngón tay lên tay ghế. “Nhưng đất của ta, lính của ta, mạng của ta, đổi lấy một cái tên trong kinh sách. Thầy buôn bán còn giỏi hơn lái muối Bố Hải. Thế chùa được gì?”
“Chiến trường này là địa ngục. Chùa xin tịnh hóa nó thành Phật quốc. Trận xong, xác trên bãi, của cả hai phe, để chùa thu. Không ai được ngăn, không ai được hỏi chùa mang đi đâu.”
“Xác lính ta cũng thu?”
“Xác thì đâu phân ta với địch.”
“Không được.” Nguyễn Siêu nói ngay. “Đầu giặc phải để lại. Quân công ta phải ghi, lính ta phải có thưởng. Lính không có thưởng thì lần sau không chịu ra bãi, mà không có lính thì thầy cũng chẳng có xác mà thu. Thầy là người tính toán, chắc hiểu cái lý ấy.”
Vị sư mỉm cười, lần thêm một hạt. “Đầu là của sứ quân, nếu lính sứ quân lấy kịp. Thân là của chùa.”
Nguyễn Siêu nhìn ông ta thêm một hơi, rồi giơ tay. Trống lệnh nổi ba hồi.
---
Cùng lúc ấy, bên kia sông, Nguyễn Bồ cho gọi các đội trưởng lại dưới mạn thuyền đầu. Hắn đứng hẳn lên mạn thuyền, một chân đạp lên be gỗ, mặt đỏ tía, gân cổ nổi như dây chão. Giọng hắn khàn đặc vì gào từ đêm qua, mỗi câu như nhổ ra:
“Lần trước đánh lũy Tây Phù Liệt, chúng mày nhớ chứ? Nhớ cái nhục ấy chứ? Thuyền đậu chờ sau lưng, mới mất mấy đứa đã có thằng quay đầu chạy, rồi cả lũ bỏ chạy theo nó, để lại nửa số người nằm phơi dưới chân cầu tre cho bọn Nguyễn chặt đầu đem đi lĩnh thưởng! Lần này không có chuyện ấy. Lần này đánh Bối Thủy Đột. Quân lên bờ hết là thuyền đẩy ra giữa dòng, không chừa một chiếc. Sau lưng chúng mày chỉ có nước. Đứa nào muốn sống thì có một đường, trèo qua cái lũy kia.”
Hắn rút đao, chĩa mũi xuống đám đội trưởng.
“Nỏ của Lưu Đoan đứng trên thuyền bắn ba hàng, bắn đến loạt cuối mới nhảy xuống. Quân xung kích đổ lên trước, bám chặt mép nước, đứa nào xông lên một mình thì chết một mình. Đợi ngựa qua bè rồi mới đánh vào lũy. Đứa nào lùi xuống nước, đội trưởng chém. Đội trưởng nào để lính lùi, tao chém đội trưởng. Còn lũy kia mà không phá được hôm nay thì tối nay khỏi ăn cơm, đứa nào cũng thế, kể cả tao!”
Không ai dám thở mạnh. Lưu Đoan, kẻ cầm đầu đám tay nỏ Đinh, lạnh như người đếm thóc, gật đầu, quay đi chia tay nỏ thành ba hàng: hàng trước bắn, lùi ra sau lên dây, hàng sau tiến lên, để mưa tên không lúc nào ngớt. Riêng hắn đeo một ống tên nhỏ bên hông, trong đó chỉ có bảy mũi. Mũi bằng sắt, do thợ đúc Hoa Lư rèn, đuôi khắc dấu của thầy bùa đã trù ếm từng chiếc; lính bảo mũi ấy có mắt. Lưu Đoan không tin mắt mũi gì, hắn chỉ tin con số bảy, và biết mỗi lần rút một mũi ra là một lần phải tính xem đổi lấy cái đầu nào cho đáng: thập trưởng, bách phu trưởng, hay một kẻ to hơn thế.
Thầy cúng phe Đinh mặc áo vải thô màu tro bước ra giữa bãi. Con trâu đen bị trói chân đứng rên rỉ, mũi chảy máu. Thầy vác lưỡi rìu, chém xuống. Máu phun tung tóe vào mạn thuyền, dính đầy lên mặt trống đồng và cán cờ hiệu. Thầy nhúng hai tay vào chậu máu, giơ lên trời mà xướng, lính xếp hàng gào đáp từng câu:
“Thần làng ơi, thần đất ơi, máu trâu đen đây!
Uống cho no, theo con qua sông!
Đứa nào ngã, thần đỡ lấy hồn!
Đứa nào sống, đầu giặc treo cành gạo!
Máu đổi máu!”
“Đầu đổi đầu!” mấy trăm cái miệng gào lên. Lính Đinh nhúng tay vào chậu máu còn nóng hổi, xoa lên ngực, lên cổ.
Một người lính nỏ già, ngón tay sần cứng vì kéo dây nhiều năm, ngồi xổm dưới be thuyền. Hắn không nhìn máu. Hắn dốc ống tre ra đếm tên, mười hai, mười ba, rồi đếm lại lần nữa cho chắc. Mười ba mũi là mười ba lần kéo dây. Hắn tính xem nhảy xuống ở loạt thứ mấy thì nước còn ngang ngực, nấp sau cái khiên của đứa nào, và nếu mũi giáo bên kia nhắm vào mình thì lăn sang trái hay sang phải. Xa hơn thế hắn không nghĩ. Hắn thử dây nỏ bằng ngón cái, nghe nó rung khẽ, rồi nhét lại từng mũi vào ống, đầu nhọn chúc xuống.
---
Bên này sông, ba hồi trống vừa dứt, toán quân của Lý Sẹo đã chen nhau qua cầu tre. Cầu hẹp, người chen, Lý Sẹo quát đám đi cuối lội qua quãng hào bị bồi cạn bên cạnh cho nhanh. Trần Mục ở cuối toán, tay nắm chặt cái liềm cùn, lội xuống quãng hào ấy, và chân hắn vấp phải một hàng cọc gãy. Gan bàn chân rách toác, máu thấm vào bùn nhão. Đôi dép bằng da trâu văng ra, trôi nhẹ trên mặt nước.
Hắn quỳ xuống, bấu hai bàn tay trần vào bùn lầy lạnh buốt. Lão Cò từng dạy cách bám đất bằng lòng bàn tay khi chân yếu. Trần Mục hít một hơi sâu, mùi bùn và mùi máu tanh nồng nặc xông lên mũi. Hắn gạt bỏ cơn đau, tập trung vào nhịp thở. Sương bắt đầu tan dần, để lộ rõ hơn những khuôn mặt mệt mỏi và bẩn thỉu của đồng đội.
Lý Sẹo đứng ở đầu hàng, cây đao bản to chống xuống bùn, mắt nhìn ra phía bãi ruộng, nơi lính Đinh sắp kéo tới. Tấm gỗ ghi quân công y đã cất kỹ trong trại từ đêm qua, như sợ mang ra bãi thì vỡ mất. Trần Mục đứng sau lưng y, cái liềm cùn giắt bên hông, tay nắm thanh trảm mã đao đến mỏi, hai chân dạng ra bám bùn, nhớ lời lão Cò dạy thế chân bám đất. Không ai nói gì. Chuột Chũi cứ chốc chốc lại thắt dây lưng quần, thắt rồi tháo, mắt dán xuống đất. Đứa đứng cạnh Trần Mục lẩm nhẩm mãi một câu khấn thần làng, khấn đến chữ giặc thì vấp, vì câu khấn ấy vốn để đuổi giặc phương Bắc; nó liếc sang bờ bên kia, nơi tiếng lính Đinh gọi nhau vọng sang rõ từng chữ, giọng chẳng khác gì giọng làng nó, rồi lại khấn lại từ đầu. Có đứa phía sau nôn khan, nhổ mãi không hết nước bọt. Hòa đứng bên kia, mặt tái mét. Lão Cò ở hàng sau, thanh đao dài lưỡi hẹp dựng cạnh chân, chẳng nhìn sông mà cứ chốc chốc liếc lên mặt lũy, chỗ Nguyễn Siêu ngồi. Vũ Mão đứng sát vai Trần Mục, gần đến nỗi hắn nghe được răng nó va vào nhau.
Bên kia sông là quân Đinh, cờ Nguyễn Bồ dựng dọc bến, lớp lớp như rừng tre non; còn bãi sậy bên tả thì im lìm, không một tiếng chim. Nguyễn Siêu đã ngồi lại trên mặt lũy. Bãi ruộng Tây Phù Liệt im phắc. Cả toán đứng giữa ruộng, chờ.
Nắng lên lúc nào không ai để ý. Sương rút xuống mặt sông rồi tan hẳn, để cả bãi ruộng phơi ra dưới trời trắng đục, và đám người đứng giữa ruộng bắt đầu thấy mình đang chờ. Bùn trên bắp chân Trần Mục khô dần, se lại, kéo căng da mỗi khi hắn nhúc nhích; ruồi đánh hơi được vết rách ở gan bàn chân, bâu tới từng đám, đuổi đi lại đậu. Không ai được rời hàng, nên có đứa cứ đứng thế mà tiểu, nước nóng chảy xuống bùn, mấy đứa bên cạnh cũng chẳng buồn quay đi.
Giữa quãng chờ ấy, một đàn cò từ bãi sậy bên kia vụt bay lên, lượn mấy vòng trên mặt nước rồi không chịu đậu xuống chỗ nào. Một lão binh răng rụng gần hết ngồi dựa cọc lũy ngẩng lên đếm, môi móm mém mấp máy; đếm ra số lẻ, lão nhăn mặt, cúi xuống một lúc rồi đếm lại thật chậm, lần này cố cho ra số chẵn. Trần Mục nhìn lão, rồi tự dưng thấy mình cũng đang đếm, đếm cọc tre quanh lũy, đếm thuyền neo bên kia sông, như người ta đếm từng đồng tiền kẽm trước khi đi chợ. Trong đầu hắn chẳng có gì ồn ào, không cả nỗi sợ, không cả chuyện quân công mà lính già hay bàn.
Lý Sẹo đi dọc hàng, bùn ngập tới cổ chân. Gã dừng trước toán mình, chống cây đao bản to xuống bùn, nhìn lượt qua từng đứa rồi mới nói, giọng không to nhưng đứa nào cũng nghe:
“Nghe đây, tao nói một lần. Lát nữa thuyền nó cập bờ, nỏ nó bắn trước, chúng mày nằm xuống; đứa nào đứng ngây ra là ăn tên vào mặt. Nỏ dứt thì nó lội lên, lúc ấy mới đến lượt chúng mày. Hai đứa một cặp: đứa cầm khiên đi trước, giơ khiên ngang ngực, đừng giơ quá đầu; đứa cầm giáo đứng sau vai nó, mũi giáo thò qua mép khiên. Đâm thì đâm thấp, vào bụng, vào háng, chỗ áo mây không che. Đâm vào rồi rút ra ngay, đừng tham ấn sâu, mắc vào xương là mày đứng đấy kéo giáo cho thằng khác chém. Đứa nào giơ giáo lên trời chém như chém chuối thì tao nói trước: chết trước.”
Gã hất cằm về phía một thằng tân binh đang giơ giáo quá đầu; thằng kia vội hạ xuống. “Còn nữa. Đứa nào chạy trước khi tao chạy, tao chém đứa ấy trước khi bọn Đinh kịp chém.”
Rồi gã ra đứng ở đầu hàng. Mắt Lý Sẹo không nhìn sang sông mà cứ nhìn về phía bãi sậy bên tả, lâu đến mức Trần Mục cũng nhìn theo, mà chẳng thấy gì ngoài sậy. Một lão binh khác nhổ toẹt đờm về phía ấy, lẩm bẩm: “Bọn Lữ Xứng.”
“Cầm thế này sao mà không tuột?” Vũ Mão hỏi, giọng run run, tay vẫn mân mê dây quấn cán giáo, buộc rồi tháo, tháo rồi buộc. Trần Mục chỉ vào chỗ thấp hơn trên cán giáo: “Dồn tay xuống đây.” Lão Cò ở hàng sau dúi cho Trần Mục một tấm khiên mây sứt mép: “Mày cầm khiên, thằng Mão cầm giáo.”
---
Thuyền Đinh rời bến cùng một lúc, bốn mươi lăm chiếc, mũi thuyền còn đỏ máu trâu, mái chèo khua trắng mặt sông. Trên mỗi thuyền đầu, tay nỏ đứng ba hàng theo nhịp gõ của Lưu Đoan: hàng trước bắn, lùi xuống lên dây, hàng sau bước lên thế chỗ. Mưa tên đen kịt bay qua sông, rơi xuống hàng quân Nguyễn ngoài ruộng không lúc nào ngớt; đứa nào giơ khiên chậm là ngã. Trên mặt lũy, cung thủ Nguyễn bắn vòng cầu trả lại, tên cắm lộp bộp vào mạn thuyền, thỉnh thoảng một tay chèo ngã nhào xuống nước, nhưng thuyền vẫn lao tới.
Giữa dòng, trên mạn chiếc thuyền đầu, giữa đám tay nỏ đang thay hàng, Lưu Đoan quỳ một gối, cây nỏ lớn tì lên be gỗ. Hắn không bắn vào đám đông. Hắn nhìn những đứa đang hô: đứa giơ tay chỉ hướng, đứa quay lại quát toán mình, đứa có cái khăn đỏ quấn đầu của thập trưởng. Rồi hắn rút một mũi sắt khỏi ống, đặt vào rãnh, đợi thuyền chồm qua một con sóng, thở ra hết, và bóp lẫy. Ngoài ruộng, một thập trưởng nhà Nguyễn đứng cách Trần Mục mấy bước đang há miệng quát thì gục xuống, mũi tên cắm ngập dưới cằm. Cả toán quanh đó chùng lại, không biết nghe lệnh ai. Lưu Đoan không nhìn theo. Hắn đã nhìn sang cái khăn đỏ tiếp theo.
Trên mặt lũy, Đàm Cương, tướng tiên phong của Nguyễn Siêu, thấy cái khăn đỏ thứ nhất gục xuống thì nhổ toẹt một bãi. Y không nhìn đám lính ngoài ruộng mà dõi theo đường tên, lần ngược về chiếc thuyền đầu, thấy cái bóng quỳ sau be gỗ không bắn loạn như đám kia. “Thấy thằng quỳ mũi thuyền chưa?” y gầm vào tai đám cung thủ. “Bắn chết nó cho tao! Cả hàng, bắn một chỗ!” Hai chục cây cung trên mặt lũy cùng ngẩng lên một lúc, tên rơi dày như mưa đá xuống mũi thuyền. Thằng lên dây cho Lưu Đoan gục ngay cạnh hắn, tên cắm ngập cổ; đứa đứng sau bị một mũi xuyên vai, ngã ngửa xuống lòng thuyền. Lưu Đoan rạp người sau be gỗ, ngẩng lên đúng một hơi, đủ để thấy trên mặt lũy một gã mặc hai lớp áo mây đang chỉ thẳng tay vào mình. Hắn nhìn cái dáng ấy thêm một nhịp nữa rồi mới thụp xuống.
---
Bên này sông, giữa bãi ruộng ngoài lũy, Trần Mục thấy những cái đầu nhô lên sau mạn thuyền bên kia. Thằng bé đánh trống chừng mười hai tuổi ngồi trên bờ hào, ôm cái trống nhỏ; Lý Sẹo quát một tiếng, nó giật mình nện xuống, tay run đến mức nhịp trống đầu tiên lạc đi, nghe như tiếng người vấp. Trần Mục siết chặt thanh đao. Tay hắn lạnh buốt. Bên cạnh, Vũ Mão lại buộc dây quấn cán giáo, buộc rồi tháo. Trần Mục chỉ nhìn dòng nước, chờ.
Thuyền Đinh quệt bùn lên bãi, đáy gỗ rít qua rễ cây trụi lá. Không ai hét. Chỉ có tiếng dây nỏ căng phịch, khô và dứt khoát. Trần Mục thấy mũi tên xé qua vai áo vải thô của hắn, nóng rát như bị lửa liếm, rồi cắm sầm vào cổ người lính đứng bên cạnh. Cổ họng người đó vỡ ra một tiếng khẹc, máu phun thành tia ngắn trước khi xác đổ sập xuống chân hắn. Trần Mục ngồi thụp xuống bùn, lưng dựa vào xác đồng đội còn ấm. Dây nỏ phía đối diện bật lại lần nữa. Tiếng tên bay vùn vụt như ong giận dữ. Trần Mục rúc sát hơn vào cái xác, đếm từng tiếng dây bật.
Hai hàng quân va vào nhau giữa gốc rạ mục và bùn lầy. Với tân binh, không có thế đứng, không có chiêu thức. Chỉ là sức nặng của người đè lên người, chân giẫm lên lưng, tay cào xé lấy áo. Tân binh hai bên gào lên, vung giáo loạn xạ, lưỡi sắt chém vào không khí nhiều hơn là vào xác thịt. Nhưng lão binh thì khác. Họ di chuyển lảng tránh những nhát chém điên rồ, tìm kẽ hở trong đám đông hỗn độn.
Lý Sẹo nép sau khiên mây dày, mắt liếc nhanh. Y thấy một tên lính Đinh giơ cao tay định ném đá, liền thò dao vào nách kẻ đó, đúng chỗ áo mây không che. Con dao găm ngắn lách vào thịt, rút ra kèm theo một vệt máu đỏ tươi. Tên lính Đinh ngã nhào, mắt trợn ngược. Lý Sẹo bước qua xác nó như bước qua xác thối, không nhìn lại. Miếng 'dao chui nách' gọn, bẩn, và chết người.
Gần đó, Đầu Bò đang vật lộn. Hắn ôm ngang hông một tên Đinh cao lớn hơn, khóa chặt hai tay đối phương lại. Đầu Bò xoay người, mượn đà cả hai cùng ngã, quật nó xuống bùn nhão. Tên lính Đinh nằm sấp, mặt ép vào đất. Đầu Bò dẫm mạnh lên cổ hắn, nghe tiếng xương gãy lạo xạo. Miếng 'quật trâu' học ở hội vật làng, chẳng có gì đẹp mắt, nhưng đứa nào đã nằm dưới nó thì không dậy nổi nữa.
---
Trên mặt lũy, Đỗ Ngạn, lão tướng hay can chủ tướng, bám mép lũy nhìn xuống bãi. Lão thấy những vũng bùn đỏ ối, xác người nằm ngổn ngang, và hàng quân nhà mình đã mỏng đi một khúc chỉ sau một hồi trống. Bàn tay lão bấu vào đất nện trắng bệch các đốt; mỗi lần dây nỏ dưới sông bật, vai lão giật lên một cái. Lão đã thấy nhiều trận, biết trận nào mở đầu bằng xương gà thì thường kết thúc bằng một quẻ khác, và lão không thích cái quẻ khác ấy chút nào. Cách lão mấy bước, Đàm Cương, tướng tiên phong của Nguyễn Siêu, đi tới đi lui sau hàng cung thủ, gắt gỏng, chửi đứa này bắn chậm đứa kia bắn non, mắt không rời chiếc thuyền đầu, như con chó bị xích nhìn thấy khúc xương. Nguyễn Hựu, em họ chủ tướng, được giao giữ cổng, đứng sau cánh cổng, tay đặt lên then cài gỗ lim lạnh cứng. Hắn không nói gì, chỉ nhìn ra xa, chờ lệnh.
---
Trần Mục nhìn sang phía sau lưng quân Đinh. Những chiếc thuyền vừa đưa họ tới bờ đã bị chính người Đinh đẩy ra giữa sông theo lệnh Nguyễn Bồ, trống không, trôi lững lờ theo dòng; chỉ mấy chiếc thuyền nỏ còn lởn vởn gần bờ. Lính Đinh trên bãi không còn đường lùi. Những kẻ đang đánh ở bãi bùn biết thế, có đứa vứt khiên, ôm giáo lao vào cả mũi giáo bên này. Trần Mục thấy rõ điều đó trong ánh mắt hoang dại của một tên lính Đinh đang xông về phía hắn.
Một tên lính áo mây lao tới, mũi giáo đâm thẳng. Trần Mục đưa khiên gạt, rồi vung trảm mã đao chém ngang ngực tên lính; lưỡi đao trúng lớp áo mây đan, bật ra, tay Trần Mục tê dại tới khuỷu. Tên lính thúc vai vào khiên, hất Trần Mục ngã ngửa xuống bùn rồi đè lên, mũi giáo kề sát cổ họng hắn, hơi thở hôi tanh phả vào mặt. Trần Mục không nghĩ ngợi. Hắn vốc một nắm bùn lầy sặc mùi thối rữa hất thẳng vào mắt gã lính áo mây. Gã đó giãy giụa, nhắm tịt mắt lại. Trần Mục trợn mắt, ngoạm chặt cổ tay cầm giáo của tên lính áo mây, cắn xuống thịt cho đến khi vị mặn chát lan đầy miệng. Gã kia hét lên, buông lỏng tay.
Đầu Bò xuất hiện từ phía sau, túm tóc tên lính áo mây kéo ngửa ra khỏi người Trần Mục, vớ hòn đá kè bờ ruộng giáng xuống mặt tên ấy cho tới khi nó thôi giãy. Rồi hòn đá lại giơ lên, nhắm xuống cái đầu đầy bùn bên dưới, mắt Đầu Bò đỏ ngầu, chẳng còn phân biệt ai với ai.
“Người toán mình!” Hòa gào lên, sát bên.
Đầu Bò khựng lại. Hắn ngoảnh nhìn quanh như vừa có ai hét vào tai, mà chỉ thấy bùn với xác. Rồi hắn nhìn xuống, nhận ra Trần Mục, buông hòn đá, chẳng nói câu nào, quay đi tìm kẻ thù khác.
Hòa vẫn gào bên cạnh Trần Mục, giọng khàn đặc. Tiếng gào ấy hòa vào hỗn âm của trận chiến, nhỏ bé và vô nghĩa giữa những tiếng xương gãy và thịt nát. Trần Mục ngồi dậy, gạt bùn dính trên mặt. Tay hắn run nhẹ. Hắn nhìn xuống cái xác gã áo mây mà Đầu Bò vừa đập vỡ sọ, rồi nhìn bàn tay mình còn vị máu của gã, rồi ngẩng đầu lên nhìn dòng nước chảy xiết phía sau lưng quân Đinh.
---
Trên mặt nước, thuyền của đám nỏ đã lùi ra cách bờ một quãng. Lưu Đoan lại rút một mũi sắt. Mũi thứ hai đổi lấy một bách phu trưởng đang phất cờ hiệu. Mũi thứ ba, một bách phu trưởng nữa. Hàng quân Nguyễn chỗ ấy chùng xuống như dây đàn đứt, lính đứng ngơ ngác chờ một tiếng quát không còn đến. Lưu Đoan đếm thầm: còn bốn.
---
Dưới ruộng, tiếng gươm kiếm thưa dần. Những tiếng rên rỉ từ bùn lầy vang lên rời rạc, ngắn ngủi như hơi thở đứt đoạn của con vật bị bắt. Đợt xung kích đầu tiên đã dạt về mép nước ở phía dưới, để lại bãi ruộng Tây Phù Liệt đầy những rạ gãy nát và vũng bùn đen ngòm nhuộm máu. Trần Mục hít một hơi dài, không khí mùi tanh chát xộc vào phổi. Hắn không đứng dậy ngay. Chút sức còn lại trong tay chân chỉ đủ cho hắn bò về phía xác gã lính áo mây vừa chết.
Hắn lật người chết ra. Cạnh đó là xác một tay nỏ Đinh trúng giáo lúc vừa lên bờ, túi tên và cây nỏ còn đeo sau lưng; Trần Mục đã để mắt tới cây nỏ ấy từ lúc đám tay nỏ Đinh nhảy khỏi thuyền. Trần Mục tháo dây da, quàng qua vai mình. Cây nỏ nặng, lạnh, nhưng hắn cần nó. Lính hai bên không ai dám nhặt đồ người chết lúc này: thầy cúng chưa gọi hồn, động vào xác là ma theo cả toán. Ngay cạnh đó, một tên lính trẻ lén cúi xuống định lột áo mây trên xác một đồng đội. Gã lính đứng cạnh tát nó một cái ngã lăn ra bùn; nó nằm im, mắt nhắm nghiền như chết thật. Có kẻ thấy Trần Mục quàng cây nỏ thì nhổ nước bọt, lùi ra xa. Trần Mục thấy cái nhổ ấy. Ma có theo thì theo; không có nỏ thì chết sớm hơn ma.
Trên bờ đê, thầy cúng phe Nguyễn Siêu đang khua chiêng. Tiếng chiêng vang lên lẻ loi, mỏng manh giữa khoảng lặng. Lão cầm bó đũa tre vãi gạo muối xuống đất, miệng lẩm bẩm những câu khấn. Lão gõ chiêng lệch nhịp hai lần, liếc lên mặt lũy xem có ai để ý. Lão không tin hồn nào nghe thấy tiếng mình gọi. Lão chỉ lo nếu bỏ dở lễ thì bị tướng quân chém đầu vì làm chậm trễ nhịp trận. Lão tiếp tục khua chiêng, tay run rẩy, mồ hôi lạnh thấm ướt lưng áo thô.
Bãi chiến trường dần im hẳn. Mấy nhà sư chùa Bạch Liên áo nâu sẫm bước xuống từ phía lũy, chậm rãi, chuỗi tràng hạt trắng lủng lẳng trên ngực. Đến giữa bãi, họ trèo lên đống xác cao nhất, ngồi xếp bằng ngay trên lưng người chết như ngồi trên bồ đoàn, và bắt đầu tụng.
Trần Mục ngồi cách đó chừng hai mươi bước. Hắn là đứa đầu tiên nhận ra. Cái mùi đã quện suốt buổi sáng, mùi máu tanh, mùi ruột gan, mùi phân người phân ngựa, tự dưng loãng đi, rồi mất hẳn, như có ai lấy tay vuốt sạch không khí. Mấy con ruồi đang bâu trên mặt xác bay lên, lượn một vòng, rồi bỏ đi cả. Đáng lẽ phải dễ thở hơn. Nhưng không. Nắng vẫn chang chang trên đầu mà gáy hắn lạnh toát, cái lạnh không đến từ gió mà như rỉ ra từ dưới đống xác, bò lên theo ống chân. Tiếng tụng càng đều, cái lạnh càng dày. Trong ngực hắn nổi lên một thứ hắn không gọi được tên, giống lúc đứng trước con chó dữ đã nhe răng mà chưa sủa.
Lính hai bên đều dạt ra, đi vòng thật xa. Không ai nói gì về cái mùi biến mất. Có đứa lẩm bẩm câu khấn rồi nhổ nước bọt ba lần xuống đất.
---
Đúng lúc ấy Nguyễn Siêu bước ra đầu cầu tre, đứng lên một cái cọc mà nhìn xuống bãi, áo choàng phần phật. Lưu Đoan nheo mắt. Một kẻ to hơn thập trưởng nhiều. Hắn tính khoảng cách, tính gió, rồi rút mũi thứ tư.
Lão Cò không biết đã bỏ hàng từ lúc nào. Lão đứng ngay dưới chân cầu, tấm khiên lớn của một đứa đã chết trên tay, mắt không nhìn quân Đinh mà nhìn lên chỗ sứ quân đứng. Dây nỏ bên kia sông vừa bật, lão đã giơ khiên lên trước mặt Nguyễn Siêu, như thể nghe thấy tiếng dây trước khi nó kêu. Mũi sắt găm ngập vào khiên, cách mặt lão một gang tay. Nguyễn Siêu không hề biết. Ông vẫn nhìn xuống bãi, rồi quay vào trong cổng. Lão Cò hạ khiên, rút mũi tên ra, nhìn cái dấu khắc trên đuôi, rồi nhổ một bãi xuống bùn.
---
Trần Mục đã quàng xong cây nỏ. Hắn đứng dậy, chân còn yếu nhưng vững hơn trước, nhìn về phía dòng nước, nơi quân Đinh đang chỉnh lại hàng. Hắn nghĩ tới cái tiếng khẹc của đứa đứng cạnh lúc nãy, thằng mà hắn chưa kịp biết tên. Sáng nay nó còn đứng đấy, vai chạm vai hắn; lúc nãy hắn đã ngồi dựa lưng lên xác nó, nép vào cho khỏi trúng tên, mà chẳng nghĩ gì. Hắn chờ mình thấy sợ, hay thấy thương, như người ta vẫn bảo phải thấy. Không có gì đến cả. Chỉ có cái lạnh trong đầu, rõ ràng và yên, như nước giếng, và hắn không biết cái lạnh ấy từ đâu ra.
Quân Đinh lại dồn lên, và Trần Mục lách vào chỗ thưa. Một mũi giáo sượt qua sườn hắn, rách lớp vải thô, kéo theo một vệt máu ấm. Chỗ ấy thưa vì quân Đinh chờ sẵn, giáo chĩa ra như rừng tre găm. Hắn rùng mình, bụng quặn lại. Lần sau, Trần Mục núp sau tấm khiên mây lão Cò đưa, đâm thấp như Lý Sẹo dạy, mũi đao nhắm vào đầu gối kẻ trước mặt. Một nhát trúng, thịt bở, kẻ thù ngã. Nhát kia trượt, chém xuống bùn, nặng trịch.
---
Bên mép nước, đợt xung kích đầu của Đinh để lại cả một dải người bị thương, đứa ôm bụng, đứa lết bằng hai tay, bò về phía sông như còn thuyền mà về. Ngựa Đàm Cương lao xuống bãi, vó đập bùn bắn tóe lên mặt Trần Mục. “Không để đứa nào sống! Giết hết!” gã tướng quát, thương từ trên lưng ngựa đâm thẳng xuống một đứa đang bò. Thương cắm sầm vào lưng nó, Đàm Cương buông cán lại, rút đao chém tiếp trong cùng một nhịp ngựa phi. Lính hai bên đều biết tiếng Phóng Thương Hoán Đao này. Lính Nguyễn ùa theo sau ngựa, giáo đâm xuống bùn liên hồi, đứa nào còn cựa là đâm thêm, cho tới khi cả dải mép nước không còn ai bò nữa.
---
Đợt sau, mấy chiếc bè lớn của Đinh chở ngựa cập bến dưới bãi. Một kỵ binh Đinh xé dọc hàng quân, ngựa hí lên, mắt đỏ ngầu. Trần Mục bị vai ngựa hất ngã, người xoay một vòng trên gót, đao theo hông vung ra, chém què chân trước con ngựa. Thanh trảm mã đao vốn rèn để cắt gân ngựa, nhưng chưa ai dạy hắn cách dùng. Ngựa đổ ập xuống, đè lên nửa người trên của Trần Mục. Mấy cái xương sườn kêu răng rắc. Tên kỵ binh thoát được, chỉ bị sượt một vết ở vai, bò nhanh về hàng Đinh, kéo theo bùn và máu.
Trần Mục trườn ra khỏi bụng con ngựa, thở dốc, phổi đau nhói như có lửa đốt. Hắn thử lại nhát xoay vào khoảng không trước mặt, xem tay còn nhớ không. Lưỡi đao chỉ quét qua quãng nắng chói. Hắn hít sâu, mùi đất ẩm và máu tanh tràn vào mũi. Hắn lôi cây nỏ trên lưng xuống, đạp chân vào cánh nỏ, kéo dây đến tối mắt. Mũi tên đặt vào rãnh. Hắn quàng nỏ lại sau lưng, vai đau tê dại.
---
Đàm Cương chém tới mép nước thì thấy đám nỏ Đinh trên mấy chiếc thuyền còn neo sát bờ. Y quay ngựa, phi thẳng xuống nước, áo mây hai lớp, hai tên lính khiên chạy kèm hai bên sườn ngựa. Một trong hai cái bóng chạy kèm ấy là Lão Cò, gầy như que củi mà chạy theo kịp ngựa, chân trần đạp bùn bắn lên tận ngực. Lão tự xin đi kèm, mắt không rời đám thuyền nỏ, như muốn tận tay dập cái ống tên vừa nhắm vào sứ quân.
Lưu Đoan nhìn thấy. Hắn rút mũi thứ năm, không ngắm Đàm Cương mà ngắm cái lão gầy đang che sườn y. Dây nỏ vừa bật, Lão Cò đã nghiêng người, hai bàn chân xoè ra bấu xuống bùn như rễ cây, cả thân người lệch đi một nhịp trước khi mũi tên tới, như thể đất dưới chân vừa nói vào tai lão. Mũi sắt chỉ sượt qua, xé toạc một bên tai, máu chảy dọc cổ. Lão không kêu, cũng không đưa tay lên ôm.
Lưu Đoan chửi một tiếng rõ to qua mặt nước: “Lại là đám chiến binh Giao Chỉ! Chúng mày làm chó cho phe Nguyễn từ lúc nào vậy?”
Lão Cò ngẩng lên, cười gằn, máu tai nhỏ xuống vai: “Giao Chỉ Quân chỉ tuân lệnh Long Quân. Không đứa nào có tư cách bắt chúng tao làm chó cả.”
Đàm Cương không hiểu hai kẻ ấy nói gì, cũng chẳng buồn hiểu. Y thúc ngựa lao vào mạn thuyền gần nhất, Phóng Thương Hoán Đao, thương đâm xuyên một tay nỏ, buông cán, đao chém tiếp hai đứa đang lên dây. Lưu Đoan bắn mũi thứ sáu vào ngực y; mũi sắt trượt trên hai lớp áo mây, chỉ rạch một đường. Hắn chửi thề, lùi ra sau mạn thuyền, sai lính chèo thuyền ra xa. Trong ống chỉ còn một mũi. Hắn nhìn theo cái lưng Đàm Cương thật lâu, như người ta nhìn một con trâu đã chọn sẵn cho ngày giỗ.
Trên bãi, trận đánh chùng xuống như nước rút. Quân Đinh dạt về mép nước, quân Nguyễn lùi về gần chân lũy, giữa hai bên là một dải ruộng toàn xác, không ai buồn bước qua. Trống hai bên cùng thưa nhịp. Trần Mục ngồi bệt xuống bờ ruộng, xé một vạt áo quấn chặt quanh ngực, mỗi lần thắt là một lần tối mắt. Nắng đã lên đỉnh đầu, rọi thẳng xuống, bùn trên mặt khô thành vảy, nứt ra mỗi khi hắn nhăn mặt. Có đứa móc trong bọc ra một nắm cơm nguội đã lẫn bùn, bẻ chia mỗi đứa một miếng; Trần Mục nhai mà chẳng thấy vị gì. Vũ Mão ngồi cạnh, lấy móng tay cạy bùn khô trong kẽ móng, cạy hết ngón này sang ngón khác, chăm chú như đang làm việc gì to tát lắm. Lý Sẹo đi dọc hàng đếm người, đếm xong thì không nói số. Xa xa, mấy con quạ đã sà xuống bãi, nhảy lò cò giữa các xác, chưa dám mổ. Quãng nghỉ ấy chỉ dài bằng một nồi cơm chín. Rồi trống Đinh lại dồn, và hai bên lại xô vào nhau giữa bãi bùn.
---
Giữa bãi bùn, một gã lính Đinh to xác vừa vung lưỡi đao cong, chém ngang lưng một tên lính Nguyễn đang quay đầu chạy. Nhát đao đi một đường từ hông bên này sang hông bên kia; nửa người trên đổ sấp xuống bùn trước, nửa dưới còn đứng thêm một nhịp rồi mới khuỵu. Lính Đinh quanh gã hô vang, gõ cán giáo vào khiên:
“Hay cho Khai Sơn Đao đất Đại Hoàng!”
Tên lính to xác vẩy máu trên lưỡi đao, ngực trần lấm tấm đốm đen, rồi quay sang phía Trần Mục, mắt trợn ngược, chĩa mũi đao vào hắn mà quát: “Ngươi! Ra đây đỡ một đao cho bọn tao xem!”
Trần Mục gật đầu. Hắn hạ thấp thanh trảm mã đao, bước tới. Bùn dính nặng ở gót. Cách một sải tay, hắn giật nỏ sau lưng ra. Hắn bóp lẫy. Dây nỏ bật một tiếng khô, cắt ngang tiếng hò reo. Tên xuyên qua mặt gã lính Đinh. Gã đứng khựng lại, tay còn đang vung đao. Máu phun ra từ lỗ thủng trên má. Gã ngã xuống bùn, không kịp kêu.
Trần Mục nhìn cái xác gục dưới bùn, trong đầu vẫn còn hơi ngơ ngác: thằng này chắc ở trong núi lâu quá nên hóa điên rồi, giữa chiến địa mà lại đòi đấu tay đôi. Chết thì cũng chẳng trách ai được. Rồi đến cả ý ấy cũng mất. Giáo Đinh đã quay sang phía này, và hắn lùi vào giữa đám người của toán mình.
Quanh hắn, toán Lý Sẹo đã không còn là những đứa đứng run giữa ruộng lúc sáng. Đầu Bò gầm lên từng tiếng như trâu mộng, không cần đao, cứ tóm được đứa nào là quật xuống bùn rồi giẫm, giẫm đến khi nó thôi giãy mới buông, mặt đỏ tía, mắt long lên như say rượu. Chuột Chũi thì không xông lên bao giờ. Nó bò lom khom sau lưng người khác, thấy đứa nào ngã là lao vào, con dao nhỏ đâm liền mấy nhát vào nách, vào cổ, nhanh như chuột rúc, rồi lủi vào sau lưng Đầu Bò, miệng cười hinh hích không thành tiếng. Lý Sẹo vẫn đứng ở mép khiên, đánh gọn, ít, mỗi nhát là một đứa gục, mắt lạnh như đang chặt củi; chỉ có cái môi cứ mím lại, rồi bật ra một tiếng chửi, rồi lại mím. Ngay cả thằng nôn khan lúc sáng giờ cũng đang vung giáo bổ xuống một cái đầu đã vỡ, vừa bổ vừa khóc, không dừng được.
Trần Mục thấy cái say ấy lan qua từng đứa như lửa bén rạ. Riêng hắn thì chỉ thấy rõ hơn: chỗ nào người dồn, chỗ nào mũi giáo đang chờ, đứa nào sắp ngã. Không đứa nào còn nhớ tới quân công. Tiếng trống trận vẫn gõ đều, không biết mừng hay tang.
Quân Đinh lui bước. Chúng rút về mép nước, chỉnh hàng giữa bãi bùn nhão. Trần Mục ngồi xuống, lưng dựa vào xác một con ngựa đổ nghiêng. Hắn vốc nước ruộng đục, uống cạn, nuốt theo cả sạn nhỏ và mùi tanh. Một lính Đinh trẻ nằm sát bên, ngực phập phù, miệng rỉ máu. Thằng lính nói giọng vùng khác, giọng khàn đặc, chỉ lặp lại một từ. Trần Mục nhìn nó. Máu trên mặt thằng lính trẻ đã khô thành vệt nâu sẫm; nó chừng tuổi Vũ Mão, môi nứt nẻ, mắt cứ dõi theo vốc nước trong tay hắn. Hắn vốc thêm nước, đổ vào miệng nó. Nó nuốt không trôi, nước trào ra khóe miệng lẫn với máu. Bụng nó bị giáo rạch ngang, ruột lòi ra một nắm dưới bàn tay đang ôm, và mỗi hơi thở là một tiếng rít. Nó nhìn Trần Mục, rồi nhìn xuống thanh đao bên hông hắn, rồi lại nhìn hắn, cứ lặp mãi cái từ lạ ấy, giờ thì Trần Mục hiểu nghĩa.
Hắn ngồi thêm một lúc, đủ để chắc không ai cứu được nó, đủ để chắc chính mình không đổi ý. Rồi hắn rút con dao nhỏ, đặt tay lên trán thằng lính cho nó khỏi giãy, và cắt một đường ở cổ, dứt khoát, sâu, như lão Cò cắt tiết gà. Thằng lính rùng mình một cái rồi thôi. Mắt nó vẫn mở. Trần Mục vuốt mắt cho nó, chùi dao vào vạt áo nó, rồi quay lưng ngồi dựa vào xác ngựa như lúc trước. Hắn không nhìn xuống nữa.
---
Trên mặt lũy, gió thổi mạnh, cờ Nguyễn phần phật; bên kia sông, cờ Đinh vẫn dựng trên bãi. Nguyễn Siêu đứng cạnh thầy cúng; lão cầm con gà luộc đã nguội lạnh, bẻ xương ức, nhìn quẻ. Lão gật đầu, chỉ tay về phía tây. “Phía tây,” lão nói. Nguyễn Siêu quay sang Đỗ Ngạn. “Dẫn kỵ ra.” Đỗ Ngạn can: “Bãi tây lầy, ngựa sa thì chết cả.” Nguyễn Siêu không nghe. Đỗ Ngạn cúi đầu.
Lão tướng biết đất này hơn ai hết. Lão không cho ngựa xuống ruộng mà dẫn mấy chục kỵ chạy dọc con bờ vùng phía tây, mặt đất nện chắc, chỉ đủ hai ngựa đi song song. Từ trên bờ, kỵ của Đỗ Ngạn đổ ập xuống sườn đám lính Đinh đang ép quân Nguyễn, giáo đâm từ trên cao, đâm rồi rút, không ham đuổi. Một đội Đinh tan ngay lượt đầu, xác nằm lật ngửa dưới chân bờ. Lượt thứ hai, thêm một đội nữa. Trên mặt lũy có tiếng reo. Đỗ Ngạn ghìm ngựa trên bờ, không cho ai xuống ruộng, chờ quân Đinh tự dồn tới chân bờ mà giết.
Rồi tên lính hầu của sứ quân phi ngựa từ lũy ra, gào lời Nguyễn Siêu: thầy cúng vừa bẻ quẻ lần nữa, quẻ nói phải đánh thẳng về phía tây, tới tận bãi sậy, không được dừng ở bờ. Đỗ Ngạn nhìn tên lính hầu một lúc lâu. Phía trước, đám lính Đinh còn lại đã quay lưng chạy về phía tây, chạy lúp xúp qua ruộng như cố ý để cho đuổi.
Lão tướng nhổ một bãi xuống bùn, giơ giáo, và cho cả toán xuống ruộng.
Chừng trăm bước đầu ngựa còn phi được. Đến bước thứ một trăm thì đất mềm ra, vó ngựa lún đến khuỷu, rồi đến bụng. Đúng lúc ấy, mấy chiếc bè cuối cùng của Đinh cập bến dưới bãi, đổ lên một toán kỵ dự bị cùng mấy chục lính phóng lao. Lũ phóng lao chạy lom khom ra trước, lao tre vót nhọn hơ lửa cầm sẵn ba cây một tay, đến gần chừng hai mươi bước thì ném, rồi lùi lại sau kỵ. Lao không xuyên được áo mây, nhưng cắm vào cổ ngựa, vào mặt người. Đám lính Đinh vừa chạy cũng quay lại. Cánh sườn quân Nguyễn Siêu phía tây chùng xuống, quân Đinh dồn lên theo. Bãi sậy bên tả vẫn im phắc, chẳng thấy bóng bọn Lữ Xứng đâu.
---
Toán Lý Sẹo bị trống lệnh lùa theo sau kỵ làm bộ binh đỡ đòn, chạy dọc bờ vùng mà giữ lối lui cho ngựa. Khi kỵ của Đỗ Ngạn xuống ruộng, Lý Sẹo chửi một tiếng rồi cũng phải cho cả toán xuống theo, vì lệnh là lệnh. Bùn ngập đến đùi, rồi đến hông. Trần Mục lội sau lưng Đầu Bò, nhìn kỵ phía trước sa xuống từng con một, nghe tiếng lao tre rít qua đầu, và hiểu ra cái chỗ trống phía trước không phải đường mà là cái bẫy.
Hắn ngoảnh lại. Xa phía sau, ở chân cầu tre, lão Cò không đi theo toán mà vẫn đứng gần chỗ sứ quân, đang vung đao chặt đứt một cổ tay cầm giáo. Rồi một tốp quân xung kích Đinh từ phía bờ sông ập tới, che khuất bóng lão. Lão Cò sống hay chết, Trần Mục không biết. Hắn quay đi.
Máu chảy thành suối nhỏ trên mặt ruộng. Hắn không chạy. Chạy trong bùn đến hông là chết nhanh hơn.
Hắn nằm sấp xuống ngay giữa đống xác ngựa và người. Bùn lạnh buốt dính vào da thịt. Hắn kéo xác một tên lính Đinh đã chết đè lên nửa thân trên, úp mặt xuống đất, ngửi mùi phân ngựa và mùi máu tanh nồng nặc. Tay phải vẫn siết chặt cán đao, nhưng ngón tay thả lỏng dần để không run.
Tiếng bước chân nặng nề tiến lại gần. Bàn chân lội bùn dẫm lên xác người, kêu bục bục ướt át. Một mũi giáo dài chọc xuống, xuyên qua lớp áo vải thô của tên lính Đinh đang đè trên lưng Trần Mục, rồi cắm nông vào bụng hắn. Lạnh trước, rồi nóng rát lan ra. Trần Mục cắn chặt môi, nuốt nước bọt lẫn bùn, không rên một tiếng, không nhúc nhích một sợi tóc, hơi thở tắt lịm trong lồng ngực.
Bước chân xa dần. Một lúc sau, có kẻ lật cái xác trên lưng Trần Mục ra, cúi xuống định giật thanh trảm mã đao khỏi tay hắn. Trần Mục đạp mạnh vào khoeo chân kẻ đó; khớp gối gập xuống, người ngã đè lên hắn. Hắn thúc mũi đao lên, lần đầu trượt vào vai, một nhát nữa mới trúng cổ. Máu xối xuống mặt hắn. Không ai thấy. Trần Mục nằm im, lắng nghe tiếng thở dốc của chính mình.
---
Ở phía tây bãi, đất lún sâu. Những con ngựa của Đỗ Ngạn bị bùn hút chân, giãy giụa vô ích. Lính phóng lao Đinh vây quanh, ném từng loạt vào bụng ngựa, rồi kỵ Đinh xông vào kéo người cưỡi xuống. Giáp sắt rơi bộp vào bùn. Đỗ Ngạn chết trong bùn, đúng như lời lão đã can. Không ai gọi tên Đỗ Ngạn. Chỉ có tiếng kim loại va chạm và tiếng nước sủi bọt khi xác người chìm dần.
---
Trần Mục nằm dưới lớp bùn và xác chết, mắt nhắm lại. Lỗ giáo bên bụng đau nhói theo từng nhịp đập của tim. Hắn đếm từng cơn đau như ngày trước đếm từng con sóng vỗ mạn đò, chờ cho chúng đi qua.
Không bên nào vỡ. Quân Đinh không có thuyền mà lùi, nên càng đánh càng liều. Chiều xuống, chúng dồn hết sức vào phía tây, đúng chỗ hào bị bồi cạn và bờ lũy sạt từ trận trước. Trần Mục bò ra khỏi đống xác, lỗ giáo bên bụng rỉ máu theo từng nhịp tim, xương sườn kêu lụp cụp mỗi lần hắn chống tay, rồi nằm rạp sau một bờ ruộng mà nhìn.
Lính xung kích Đinh lội bùn đến ngực, ôm cả bó tre, bó rạ quăng xuống quãng hào cạn cho đỡ lún, rồi bám cọc gãy mà trèo. Đứa trước trúng tên ngã ngửa, đứa sau không kéo nó ra mà giẫm lên ngực nó để lên, rồi lại có đứa giẫm lên cả hai. Chỉ một lúc, chân quãng lũy sạt đã thành một bậc thang bằng người. Trên mặt lũy, lính Nguyễn vần đá, hắt cả nồi cháo đang sôi xuống; một tên Đinh bị hắt trúng mặt buông tay, rơi thẳng xuống hàng cọc vót nhọn, treo ở đấy mà giãy. Nỏ của Nguyễn Hựu bắn xuống không ngớt, cung thủ bắn đến bật máu ngón tay, nhưng chúng vẫn lên, như kiến bò lên miệng nồi. Một thằng Đinh cởi trần, ngậm cán cờ trong miệng, leo được tới mép lũy thì bị ba mũi giáo đâm cùng lúc. Nó ngã xuống, nhưng cán cờ đã cắm vào đất nện, và đứa leo sau nó dựng thẳng lá cờ lên. Trần Mục nhìn thấy cờ Đinh phất trên mặt lũy phía tây.
Dưới chân quãng lũy sạt, Đàm Cương vẫn ngồi trên ngựa, áo mây rách tả tơi, đang quát lính xông lên chặn lũ Đinh đang trèo. Lần này không còn ai chạy kèm che sườn Đàm Cương: tốp xung kích Đinh đã cuốn Lão Cò đi đâu không biết. Trên mặt sông, Lưu Đoan đứng hẳn dậy giữa thuyền, rút mũi tên cuối cùng. Hắn đã chờ đúng lúc này cả buổi: lúc Đàm Cương giơ tay chỉ, cái khe áo mây dưới nách mở ra. Dây nỏ bật. Mũi sắt cắm ngập vào nách y. Đàm Cương ngồi thẳng thêm một hơi, như còn định quát nốt câu, rồi đổ khỏi yên xuống bùn dưới chân quãng lũy sạt. Ngựa y hoảng, chạy loạn qua bãi, kéo lê cả cái xác vướng chân bàn đạp. Lưu Đoan ngồi xuống, lật ngược cái ống tên rỗng, gõ một cái vào be thuyền.
Đến lúc nắng tắt, quân Đinh đã giữ được cả quãng lũy phía tây, từ chỗ sạt tới cái chòi canh gãy. Quân Nguyễn giữ phần còn lại: cổng, cầu tre và mặt lũy phía đông. Không bên nào còn sức đánh tiếp. Hai bên kéo xe, chặt cây, chất bao đất, dựng rào chắn ngay trên mặt lũy, hai bức rào nhìn nhau qua một quãng chưa tới một tầm tên, ở giữa là đất trống lổn nhổn xác. Nguyễn Hựu cho mở cổng một khe hẹp, chỉ đủ cho người bị thương ngoài bãi lết vào từng đứa, nỏ trên mặt lũy chĩa sang phía tây không rời. Thằng bé đánh trống vẫn còn sống, ngồi trên bờ hào nện trống thu quân, lần này đúng nhịp.
Trần Mục lết về phía cầu. Hắn thấy Vũ Mão đang ngồi bệt dưới chân cầu, tay ôm cây giáo đã gãy cán, mắt nhìn trừng trừng về phía sông như chưa thấy gì khác suốt cả ngày. Nó vẫn sống. Hắn kéo nó đứng dậy, hai đứa dìu nhau qua cầu, không ai nói gì.
Sau lưng họ, mấy nhà sư tràng hạt trắng đã xuống bãi, cúi xuống từng xác, xác Nguyễn, xác Đinh, như người đi nhặt rau, đúng như giao kèo không ai được ngăn. Một nhà sư vừa lần hạt vừa tụng khẽ: “Bỉ ngạn hoa khai, bạch cốt biến dã…” Trần Mục nghe lỏm được, không hiểu nghĩa. Lính Nguyễn, lính Đinh đều nhìn thấy, không ai bắn, không ai hỏi. Gió chiều thổi qua bãi sậy, lạnh như đã sang đông.
---
Canh ba.
Lửa trại bập bùng, khói quyện với mùi thịt ngựa nướng khét lẹt và sương đêm từ sông trườn vào, ướt át lạnh lẽo. Ngoài sân, thầy cúng cầm bộ áo lính đã chết, trèo lên nóc lều tranh, quay mặt về phía bắc, vẫy áo mà gọi, giọng kéo dài thê thiết:
“Hồn ơi về!
Ba hồn bảy vía ơi về!
Đừng theo nước, đừng theo tràng hạt trắng…”
Thầy gọi tên từng người trong toán ba lần, rồi ném bộ đồ xuống đất cho bạn cùng toán đắp lên chỗ nằm trống của đồng đội. Không ai dám ngủ ở những chỗ ấy.
Lão Cò về muộn, một bên tai rách toạc, áo dính máu không phải của mình; lão bảo đã nằm dưới một con ngựa chết cho tới khi bọn xung kích Đinh đi qua, rồi thôi không nói nữa. Lão ngồi xổm bên cạnh Trần Mục, quấn một dải vải thật chặt quanh ngực hắn, chỗ xương sườn gãy, ấn nhẹ quanh lỗ giáo bên bụng rồi đưa ngón tay lên mũi ngửi, nhếch mép. Băng xong, lão dúi cho hắn nửa bầu rượu. Không ai nói gì. Trần Mục nhìn cái tai rách, nhớ cái khiên giơ lên ở chân cầu lúc sáng, nhớ câu lão gào qua mặt nước, và không hỏi.
Lính kháo nhau về đám sư tràng hạt trắng. Mỗi đứa một mẩu tin: hạt tràng là xương người chết trận, mỗi trận thêm một hạt; chùa Bạch Liên chưa có sư nào chết già; lão binh gọi nhỏ là chùa Xương. Một lão binh hát khẽ câu đồng dao:
“Con ơi chớ có ra đồng,
Sư ngồi tụng xác, hồn không về làng.”
Lão Cò quát cả bọn câm mồm rồi tự nhổ về phía bãi xác.
Lý Sẹo cầm que than, gạch tên mấy đứa không về trên tấm gỗ, tay không dừng. Sổ quân công chẳng thêm mấy vạch: trận chưa xong, quân Đinh vẫn còn đó. Vũ Mão ngồi sát cạnh Trần Mục, quấn lại dây cán giáo mới, tay vẫn run. Trần Mục đặt thanh đao xuống cạnh chân.
Phía tây, ngay trên mặt lũy, lửa trại Đinh cháy thành một vệt, gần đến mức nghe được tiếng lính Đinh nện cọc, tiếng chúng chửi nhau, cả tiếng một đứa nào đó bên ấy rên suốt đêm không dứt. Không ai bên này ngủ được. Bên kia đống lửa, Hòa ngồi nhìn Trần Mục, môi mấp máy như đang nói điều gì.
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.