Vô Thượng Đế Quân

Chương 1: Cậu Ta Tên Ngụy Bình An

Đăng: 09/09/2026 07:49 3,823 từ 10 lượt đọc
Thôn Đại Liễu nằm sâu trong một cái khe núi ở rìa dãy Thương Hà, độ chừng trăm hộ dân.


Thứ đáng giá nhất trong cái thôn này, chính là cây hòe già đầu làng, bởi các cụ già trong thôn đều bảo cây ấy đã hơn ba trăm năm tuổi.


Nhưng dân trong thôn phần lớn đều vòng qua cây ấy mà đi.


Họ không sợ cây thành tinh, mà là sợ Ngụy Bình An.


Ngụy Bình An, thằng nhóc mười sáu mười bảy tuổi, mình mặc bộ áo xanh vải bạt đã ngả bạc, người trông cũng trắng trẻo, đôi mắt to sáng trông rất lanh lợi. 😊


Còn vì sao cả thôn thấy cậu là tránh xa, chuyện này thực ra chẳng ai nói rõ được.


Chỉ biết là ai dám đắc tội với cậu, thì hôm sau chắc chắn xui xẻo.


Không thì tường đổ, không thì mất trộm gà. 🐷


Xui hơn nữa, vợ có thể nửa đêm bồng con về nhà mẹ đẻ.




Nếu có hỏi cậu? Cậu chỉ trợn mắt, xòe tay nói tôi không biết.


Thực ra ai trong lòng cũng có số.


Nhưng chẳng ai bắt được cái tang của cậu, đành phải gọi thầm: Ngụy Đại Họa.


Nhưng sớm mai này, phá trời dưới gốc hòe già lại vây quanh một đám đông.


Giữa đám người, đứng ngay đấy là Ngụy Bình An.


Cậu đổi một bộ đồ mới, vải thô xấu, cổ áo còn chỉnh lại.


Cậu vắt một cái bịt nhỏ, dây thừng buộc chặt, không cần mở cũng biết, bên trong chắc chỉ mấy cái bánh khô với bộ quần áo thay.


Cái nổi nhất vẫn là cái chảo sắt cột sau lưng, bằng dây thừng thô buộc chặt, nhỏ hơn chảo xào thường một vòng.


Đeo trên lưng, từ xa trông như mang một cái mai rùa vậy.


“Bảo nó lại giở trò gì đây?” Sau đám người, bố thằng Nhị Cẩu nhón chân lẩm bẩm, tay còn cầm nửa cái bánh ngô, “Hôm trước tường nhà tôi mới sập, hôm nay ăn mặc chỉnh tề thế này, chẳng lẽ muốn bỏ trốn?”


Ông cụ bên cạnh huých tay ông: “Nói nhỏ thôi, đừng để nó nghe thấy. Mà nghe thấy thì mai nhà ông mất cả lợn nái.” Bố thằng Nhị Cẩu vội bịt miệng rúc vào đám đông.


Chẳng ai biết Ngụy Bình An định làm gì.


Chỉ mình cậu biết, cậu đang đợi một vị tiên nhân có thể cho mình trường sinh bất tử.


Chuyện này phải kể từ nửa tháng trước.


Hôm ấy cậu lên núi nhặt củi.


Bảo nhặt củi, thực ra là đi mò trứng chim.


Cậu sợ chết nên không dám vào sâu, chỉ dám lững thững ở sườn núi.


Đang cúi người thọc tay vào bụi cây moi tổ chim, bỗng nghe một tiếng gió vù trên đầu, một luồng sáng xanh vụt xuống ngay trước mặt cậu, cách ba bước.


Ngụy Bình An giật mình, trứng chim suýt rơi vỡ.


Ngẩng đầu nhìn, trước mắt là một tu sĩ áo xanh, tay cầm phất trần.




Tu sĩ cúi nhìn cậu mấy cái, mắt sáng lên, vuốt râu gật gù: “Căn cốt tốt! Thực sự căn cốt tốt đấy! Bé thế mà đã có căn cốt thế này, quả là kỳ tài tu tiên hiếm gặp muôn năm!”


Ngụy Bình An ngẩn người ngay lúc đấy.


Tu tiên? Kỳ tài? Cậu lớn lên nghe các cụ trong thôn kể bao nhiêu chuyện tiên, bảo tiên cưỡi mây, trường sinh bất lão, sống cả mấy trăm năm như chơi.


Điều cậu mong nhất đời là sống lâu hơn một chút, không chết thì đừng chết, sống thêm năm nào hay năm ấy.


Thôn Đại Liễu nghèo, bệnh nhẹ thì cầm cự, bệnh nặng thì nằm chờ, bố cậu vì một trận cảm mà không qua khỏi, lúc đi chỉ còn da bọc xương.


“Tiên … Tiên trưởng?”


Ngụy Bình An quỳ thụp xuống, trứng chim quẳng, củi bỏ, cứ thế cúi đầu lạy lia lịa: “Tiên trưởng, xin người thu con làm đồ đệ! Con tình nguyện làm trâu làm ngựa cho người!”


Cậu lạy thật sự, liên tục không ngừng, đến cái thứ mười tám thì trán đã bầm tím, đau đến nhăn nhó, nhưng không dám dừng.


Cậu biết rõ: lạy thêm một cái là tiên trưởng có thêm phần thu nhận, đập đầu còn hơn chết yểu.


Vị tu sĩ áo xanh cười tủm tỉm đỡ cậu dậy: “Đã có duyên với ta, ba ngày nữa ta đến đón, con về thu xếp, mang thứ cần thiết, cửa núi thanh bần, đừng mang nhiều đồ vướng chân nhé.”


Nói xong phất trần, hóa thành luồng sáng xanh, vút mất.


Ngụy Bình An quỳ mãi, đến khi bướu trên trán đau nhói mới xác định không phải mơ.


Cậu lết về nhà, lục tung mọi thứ có giá trị.


Gọi là giá trị, thực ra toàn đồ vứt: một cái bát sứ vỡ miệng, một con dao thái có vết mẻ, và mấy bộ quần áo cũ của bố.


Lục mãi, cuối cùng lôi được cái chảo đen, kẹt dưới gầm giường phủ lớp bụi dày.


Cái chảo đó chính là cái đang đeo sau lưng bây giờ.


Lúc sống bố cậu bảo, đây là chảo sắt huyền truyền từ đời trước, nặng kinh hồn, ôm trong tay như ôm cục sắt.


Trước khi đi, bố níu tay cậu lẩm bẩm ba ngày, mãi một câu: “Bình An à, bố chẳng để lại gì cho con, chỉ có cái chảo này, con đeo lấy, giữ mà dùng khi cần.”


Bố đi khi chỉ còn da bọc xương, tay lạnh như đá.


Ngụy Bình An ngồi bên giường, mắt đỏ hoe, dù thấy cái chảo này vô dụng, cũng không dám chống lại.


Từ hôm ấy, cậu mang nó bên người, làm gì cũng mang, đi đâu cũng mang.


Dân làng cười bảo: thằng Ngụy đeo chảo khắp nơi như con rùa lớn vậy.


Cậu chẳng bận tâm, mang thì mang, chẳng ảnh hưởng gì đến công việc, lỡ may thật sự giữ được mạng thì sao?


Giờ tiên trưởng muốn thu cậu đi tu, cậu lục hết chỗ có, thấy cần nhất vẫn là cái chảo này.


“Bố ơi, bố quả không lừa con.”


Cậm ôm chảo lẩm bẩm, “Chảo này hẳn là báu vật. Nếu không, sao tiên trưởng lại chọn con?”


Cậu cọ chảo ba lượt cả trong ngoài, cạo sạch lớp gỉ.


Lại moi hết tiền dành dụm mua mảnh vải thô, may bộ đồ mới này.


Ba ngày sau, chưa sáng cậu đã dậy.


Thay đồ mới, chảo sáng bóng, vác bịt, lúc trời vừa hừng sáng đã chạy ra gốc hòe đầu làng.


Cậu chọn chỗ nổi nhất mà đứng, lưng thẳng, cố gắng trông tinh thần nhất.


Từ bình minh đến hoàng hôn.


Mặt trời mọc bên đông đốt da đầu, cổ đau nhừ, mắt nhoè vì ngóng mãi, chẳng thấy bóng dáng tiên nhân nào.


Ngày thứ nhất, cậu tự nhủ tiên trưởng bận.


Ngày thứ hai, cũng cả ngày chẳng thấy.


Ngày thứ ba, mặt trời đã ngả, dân làng bắt đầu xì xào.


Bố thằng Nhị Cẩu đã ngà ngà, vỗ bàn đá đầu làng cười: “Bình An này, thôi đừng đợi nữa! Tao nghĩ thằng cha kia chắc thấy mày ngốc mới chọc ghẹo đấy! Kỳ tài tu tiên ư? Mà cái thôn Đại Liễu này có ra tiên được, con lợn nái nhà tao thành tiên từ lâu!”


Đám đông cười ồ.


Ngụy Bình An không đáp, lặng lẽ chờ tiếp.


Phiến đá dưới mông đã nóng ran, tê rần.


Cậu biết dân làng đợi xem trò cười, nhưng cậu không muốn bỏ cuộc.


Trường sinh đấy, trường sinh cơ mà.


Lỡ cơ hội này e cả đời không gặp nữa.


Ngày thứ tư, thứ năm, cậu vẫn đến, từ sáng tinh mơ đến tối.


Đứng mỏi thì đứng dậy vận động, đói thì cắn vài miếng bánh khô.


Phiến đá dưới gốc hòe bị mài nhẵn bóng.


Dân làng từ thương hại sang cười cợt, rồi chẳng buồn nói nữa, chỉ nghĩ cậu bị ma ám.


Tối hôm thứ năm có trận mưa phùn, cậu ướt sũng về nhà.


Cởi bộ đồ mới ra lau kỹ cẩn thận.


Đêm đó cậu ngủ rất say, và có một giấc mơ.


Cậu thấy một vùng nước đen ngòm, mênh mông vô tận, như cái chảo khổng lồ úp giữa trời đất.


Giữa nước lập lờ một thứ ánh sáng ấm áp, như lúc còn mẹ cậu ru ngủ.


Vừa định đưa tay chạm vào, thứ ánh sáng ấy lại xộc vào lòng cậu, ấm áp, thấm vào từng lỗ chân lông, dễ chịu đến nỗi cậu thở dài.


Tỉnh dậy khi trời vừa sáng, cậu vừa lật mình nghe tiếng nước vỗ.


Cậu sững người, cái chảo đen úp trên bếp lúc trước giờ đã có gần nửa chảo nước.


Nước trong vắt, ánh lên thứ sáng mờ, đúng màu trong giấc mơ.


Cậu nhớ rất rõ, tối qua đánh chảo sạch sẽ úp trên bếp, không một giọt nào.


Sờ vào đáy chảo thấy mát lạnh.


Nhìn các đường vân trên thành chảo, dường như đen hơn trước, như mực ngấm vào sắt, đen bóng.


“Hay mình hoa mắt?” cậu gãi đầu, đổ nước đi, úp chảo lại.


Nhưng mối nghi hoặc trong lòng đã bén rễ.


Cậu không để tâm quá lâu.


Vì cậu đang ấm ức.


Tên tu sĩ kia đã hứa.


Hẹn ba ngày đón, vậy mà bắt cậu đợi năm ngày, không bóng dáng, ai chịu?


Ngụy Bình An là thằng không tin tà, từ nhỏ hễ ai động vào mình, cậu đều trả lại.


Trước thằng Nhị Cẩu cướp trứng chim cậu, hôm sau gà nhà nó bị cậu nướng ăn sạch; trưởng thôn khấu tiền cứu trợ của cậu, hôm sau ống khói nhà ông ta bịt kín.


Cậu cũng không hiểu vì sao, cứ muốn ai xui, người ấy đúng là không được yên.


Lần này lại bị gạt, mà là chuyện trường sinh, cậu không nhịn nổi.


“Trốn đầu trốn đuôi,” cậu ngồi bên bếp lẩm bẩm với cái chảo đen, “mình lên núi Thương Hà tìm, không tin không thấy. Mà thấy rồi thì phải nói cho rõ.”


Ngụy Bình An đời này sợ nhất là bỏ lỡ cơ hội.


Trời còn chưa sáng hẳn cậu đã ra khỏi nhà.


Thay đồ mới, vác bịt, đeo chảo đen, đứng dưới gốc hòe đầu làng.


Mấy người dậy sớm trông thấy cậu, đều ngẩn ra.


Ngụy Bình An hắng giọng, giọng không to nhưng giữa gốc hòe yên tĩnh, ai nấy đều nghe rõ: “Thưa các bác, các chú, các bà, Bình An xin đứng đây lần cuối. Lần này mà vẫn không tìm được vị tiên trưởng ấy, con cũng chẳng quay trở về nữa.”


Đám đông im lặng trong giây lát.


Người thì há hốc, hạt dưa rơi, người thì thùng nước suýt nghiêng.


Bố thằng Nhị Cẩu bưng bát cháo ra, nghe mà đứng sững ở cửa.


Vẫn là ông trưởng thôn chống gậy bước ra mấy bước: “Bình An, lại đi đâu đấy?”


"Tôi đi tìm tiên nhân. Lần trước ông ta bảo tôi có căn cốt đặc biệt, ngàn năm mới gặp, chẳng lẽ bắt tôi vui mừng hụt một trận rồi thôi sao? Tôi lên núi Thương Hà kiếm ông ta, phải bắt ông ta nói rõ mới được."


Miệng ông trưởng thôn run lẩy bẩy, sắc mặt như thấy ma: "Mày phàm nhân lên núi Thương Hà? Trên núi ấy yêu thú hoành hành, ma quái tác oai, mày đi đấy khác gì đi chết?"


"Tôi biết có yêu thú, có ma quái. Nhưng tôi không sợ. Tôi mệnh cứng lắm."


Nói xong, cậu cúi chào cả làng một cái.


Đứng thẳng dậy, nghiến răng quay người, bước ra khỏi thôn.


Sương mù buổi sớm đặc quánh không tan, bóng cậu đi vài chục bước đã mờ nhạt, thêm vài chục bước nữa thì tan hẳn vào làn sương trắng, chỉ còn một hình hài cái chảo đen lờ mờ rồi biến mất.


Cổng làng im lặng một hồi lâu.


Một người đàn ông lực lưỡng thì thầm: "Có khi vài hôm nó lại về ấy nhỉ?"


Ông trưởng thôn trầm mặc hồi lâu, gậy gõ mạnh xuống đất hai cái: "Đi, lấy giấy vàng trong từ đường ra. Từ nay về sau, ngày rằm tháng giỗ nhớ đốt thêm hai xấp."


Thằng thanh niên đứng cạnh ngẩn người: "Thưa cụ, nó đi tìm tiên nhân chứ có chết đâu, cụ đốt vàng mã làm gì?"


Cụ trưởng thôn trừng mắt: "Mày biết gì. Nếu nó kiếm không ra tiên nhân, vài hôm lại về. Còn nếu nó kiếm được, thì còn đáng sợ hơn cả chết. Một đại họa biết tu tiên rồi, nó muốn hại ai mà chẳng được?"


Mấy người trong đám đồng loạt thở phào.


Ngụy Bình An men theo đường núi đi lên, càng đi càng dốc.


Trước giờ đi nhặt củi cậu chỉ dám lên đến sườn núi, chưa bao giờ đi xa hơn. Đi được hơn một canh giờ, đường mòn càng lúc càng hẹp, bụi cây càng rậm rạp, dưới chân toàn lá mục dày, bước xuống lúc sâu lúc cạn.


Sương mù dày đặc, chẳng thấy gì, thỉnh thoảng mới có tia nắng xuyên qua kẽ lá.


Trong lòng cậu cũng nơm nớp lo sợ, vì cậu sợ chết, mà sợ lắm.


Cậu vừa đi vừa cầm tảng đá, đi hai bước lại ngoái nhìn.


Nhưng mà quay về để làm gì? Bị lừa mà chẳng dám nói một lời, lủi thủi về làng chắc sẽ bị cười cả đời, vậy còn sống làm gì cho nhọc.


Với lại, tên tu sĩ đó bảo cậu là kỳ tài tu tiên, lỡ may là thật thì sao? Nếu không đi tìm, đời này bỏ lỡ mất.


Đi thêm gần một canh giờ nữa, cậu thực sự đi không nổi, đành ngồi tựa vào tảng đá bên vệ đường nghỉ chân, móc bánh khô ra nhấm nháp.


Đang nhai, bỗng nghe trên đỉnh đầu vang lên tiếng ù ù, rung đến cả không khí.


Ngước nhìn, một luồng sáng xanh lướt qua phía sườn núi, vút nhanh như sao băng, chỉ trong nháy mắt đã khuất sau dãy núi.


Ánh sáng xanh! Giống hệt ánh sáng xanh hôm nọ tên tu sĩ cưỡi đi!


Ngụy Bình An bật dậy, quẳng bánh khô, rượt chạy lên núi.


Chẳng kịp nghĩ đến chân còn mỏi, sương còn dày, cậu vừa chạy vừa ngước nhìn trời, sợ luồng sáng biến mất tăm.


Chạy được nửa canh giờ nữa, cậu cuối cùng cũng trèo lên đỉnh núi. Đứng ở vách đá nhìn xuống, cậu sững người:


Trong mây khói mờ ảo, một quần thể kiến trúc nối tiếp nhau, lầu gác mái cong, đền đài trạm khắc tinh xảo ẩn hiện trong sương, cùng với tiếng chuông mơ hồ vọng lên.


Quả thật có tiên môn!


Cậu đang định lao xuống theo lối mòn, thì sau lưng bỗng vọng một tiếng ho khe khẽ.


Cậu xoay người, cách vài bước đứng một cụ già áo xám, đầu tóc bạc phơ, khuôn mặt thanh tú hốc hác, gầy trơ xương, đôi mắt đang đổ dồn vào cậu.


"Cậu vừa bảo có người từng nói cậu căn cốt kỳ lạ ngàn năm khó gặp?"


Ngụy Bình An vội gật đầu, kể đầu đuôi câu chuyện nửa tháng trước, kể sinh động lắm, cả chi tiết cúi lạy đến lõm đất cũng không thiếu.


Ông già nghe xong, im lặng giây lát:


"Ta thấy cậu bị lừa rồi. Kẻ đó chắc là đồ bại hoại bị đuổi khỏi môn phái, chuyên xuống phàm trần nhắm mấy kẻ tầm thường, hứa thu đồ, lừa ít đồ rồi bỏ. Cậu chẳng có căn cốt gì đặc biệt đâu, hắn chỉ tiện tay chọn thôi."


Ngụy Bình An há miệng, cổ nghẹn như nuốt phải bông.


Thực ra cậu đã đoán được từ lâu, nhưng cậu tự dối mình rằng hãy đợi xem, lỡ đâu là thật.


Cậu thất vọng ngồi thụp xuống, úp mặt vào đầu gối.


Một lát sau ngẩng lên, mắt đỏ hoe, nhưng không rơi lệ.


"Vậy bây giờ con biết làm sao? Con có còn được bái sư không? Con không muốn về làng."


Ông già không đáp, ánh mắt rơi xuống chiếc chảo đen sau lưng: "Cái chảo này của cậu, lai lịch thế nào?"


"Đồ gia truyền ạ. Bố con bảo là sắt huyền đúc, có thể dùng phòng thân."


Ông già cầm lấy chảo lật đi lật lại, ngón tay miết theo đường vân trên thành chảo, xem đi xem lại mấy lượt, lại đưa lên mũi ngửi, một lát sau trả lại:


"Sắt huyền thì đúng, nhưng đường vân trên chảo này là cổ văn dung dược, không giống thợ rèn thường đúc được. Cậu đã đến đây lại mang theo chiếc chảo này, coi như có duyên. Đỉnh Đan của Thương Hà tông thiếu một tạp dịch thử dược, chuyên uống thử thuốc mới luyện cho đệ tử Đan phong để xem có độc hay dược tính thế nào. Công việc vất vả, nguy hiểm, nhưng có linh thạch trả, làm tốt còn được học bản lĩnh luyện đan chính tông. Cậu có muốn ở lại không?"


Ngụy Bình An nhìn thẳng vào mắt ông già, bình lặng như mặt nước chết, không toan tính cũng chẳng thương hại.


"Thử thuốc có chết không ạ?"


"Xui thì có."


Lòng cậu trùng xuống, bởi đời này cậu sợ nhất là chết.


Nhưng về thôn Đại Liễu, ngày nào cũng bị chế giễu, biết đâu một trận gió cũng cuốn đi. Ở lại đây thì tuy nguy hiểm nhưng có ăn có ở, còn được học nghề.


Cậu sợ chết, nhưng không phải sợ một cách ngu xuẩn.


"Con làm!" Cậu gật đầu.


Ông già quay người: "Đi theo ta."


Ngụy Bình An vội vã cột chảo lại, lon ton theo sau.


Đường núi quanh co, đi một lúc, dưới chân từ đường đất chuyển thành đá xanh, hai bên cỏ dại thành những luống thuốc được tỉa tót gọn gàng.


Trong không khí thoang thoảng mùi thuốc đắng.


"Đường Thử Dược ở sau núi Đỉnh Đan, vị trí hẻo lánh, nhưng yên tĩnh. Mỗi sáng giờ Thìn đến lấy đơn thử, theo đơn thử thuốc và ghi chép tác dụng. Nhớ là đừng lười biếng, cũng đừng tự ý làm bậy."


"Dạ."


"Vậy xin hỏi cụ xưng hô thế nào ạ?"


"Cứ gọi ta là ông Trịnh là được."


Đi thêm một đoạn, ông Trịnh dẫn cậu đến trước một cái sân nhỏ hẻo lánh.


Nhà gạch xanh ngói vẩy, chân tường rêu phong, góc sân xếp san sát những chum vại đất, mùi thuốc đắng chát bay lên.


"Đây là chỗ cậu ở. Có giường, bàn, bếp, còn chén bát nồi niêu tự sắm. Sáng mai giờ Thìn đến phòng thuốc tìm ta, đừng đến muộn." Nói xong ông quay lưng bỏ đi.


Ngụy Bình An đứng trong sân ngẩn người, xung quanh yên tĩnh như nghĩa trang, chỉ còn tiếng nước nhỏ giọt tí tách.


Đẩy cửa bước vào, mùi ẩm mốc xông tới, trong nhà đơn sơ đến nghèo nàn.


Cậu thảy gói đồ lên bàn, người uỵch xuống giường, vì quá mệt mỏi, nhắm mắt rồi thiếp đi lúc nào không biết.


Trong nửa tỉnh nửa mê, cậu nghe tiếng cọc cạch ngoài sân, mở mắt, ông Trịnh đã đứng ngay cửa, tay bưng bát thuốc đen sì.


"Tỉnh rồi à. Uống bát thuốc này đi, từ mai bắt đầu ghi chép dược tính." Ông đặt bát xuống, rồi đi.


Ngụy Bình An cầm bát nhìn thứ nước thuốc đặc quánh như mực, mùi đắng xộc lên tận óc.


Cậu nghĩ, ngày đầu tiên đã bắt thử thuốc rồi à? Cũng không cho người nghỉ ngơi chút nào? Nhưng người ta chẳng có lý do gì để hại mình.


Cậu hít một hơi thật sâu, ngửa cổ tu một hơi hết sạch.


Nước thuốc xuống cổ, một luồng nhiệt như lửa từ dạ dày bùng phát, toả khắp tay chân, từng mạch máu như bừng cháy. Cảnh vật trước mắt bắt đầu quay cuồng, cậu loạng choạng hai bước, toan bám bàn nhưng tay hụt, người khuỵu xuống sàn cái bịch.


Mơ màng thấy ông Trịnh thò nửa người từ ngoài cửa: "Quên chưa bảo, đây là Hỏa Thiền Hoàn. Dược tính mạnh, ngày đầu sẽ choáng một lúc, qua là được."


Rồi màn đen buông xuống.


Không biết bao lâu sau, Ngụy Bình An tỉnh dậy, trời đã tối đen.


Cậu chậm chạp bò dậy, tưởng sẽ đau nhức khắp người, nhưng ngơ người nhận ra toàn thân ấm nóng như tắm nước ấm, thoải mái dễ chịu. Cơn đau lưng từ hôm đi nhặt củi không còn, chứng đau nhức đầu gối mỗi khi trời âm u cũng biến mất, cơ thể như được rửa lại một lần.


Ngẩn người hồi lâu, cậu cúi xuống nhìn bàn tay mình.


Lòng bàn tay hiện ánh hồng nhạt, khác hẳn trước kia khô khốc trắng bệch như củi mục.


Cậu tháo cái chảo xuống, định nghỉ ngơi một chút vì đeo đã quá mệt, nhưng bỗng thấy hoa văn trên chảo dường như sáng lên.


Cậu đưa ra ánh trăng, soi kỹ, những đường vân nguệch ngoạc ở thành chảo có vẻ sẫm màu hơn ban ngày, đen bóng.


Không phải ảo giác.


Cái chảo này thực sự đang thay đổi.


Tim cậu đập thình thịch, không dám kể với ai.


Nằm lại giường, cậu không tài nào ngủ được. Ngồi dậy, móc cuốn sách ông Trịnh đưa lúc nãy từ trong túi—trên bìa đề ba chữ xiêu vẹo: Dẫn Khí Quyết.


Cậu đọc từng chữ, những khái niệm như đan điền, khí tê, khai mạch với cậu thật xa lạ mà mới mẻ.


Cậu thử bắt chéo chân ngồi yên, điều chỉnh hơi thở theo sách, thử suốt mà chẳng cảm thấy gì, chỉ thấy bụng hơi căng một chút.


Cậu đóng sách lại, cũng chẳng vội, dù sao cũng đã ở đây rồi, ngày còn dài.


Rồi cậu nhắm mắt, mơ màng nghĩ:


Bố à, mẹ à, con bây giờ đã ở tiên môn. Sau này nhất định sẽ tu tiên, trường sinh bất lão, vẻ vang cho nhà mình!


Cậu không biết rằng, sau khi cậu ngủ say, những đường vân dung dược nguệch ngoạc ở vành chiếc chảo đen đó bỗng loé lên một tia sáng đen mờ nhạt.


Như có điều gì đã ngủ say từ rất lâu, đang bắt đầu động đậy, trong dòng dược lực vừa thấm vào.

0
Ủng hộ tác giả Thiencung Hoang Nếu bạn yêu thích tác phẩm thì ủng hộ mình một ly cà phê nhé