Tàng Thư Kiếm Lục: Tiền Truyện - Thuỷ Chung Đồng Vĩ

Chương 7: Bát Sành Vỡ Từng Mảnh, Thủ Hạ Không Lưu Tình

Đăng: 02/11/2026 21:23 6,564 từ 32 lượt đọc

Chính điện của gian chùa bỏ hoang được lát bằng hai trăm bốn mươi viên gạch vuông, Mộ Phong đã đếm xong từng viên từ buổi sáng đầu tiên. Khi ấy, nắng còn chưa lọt qua chỗ mái sập. Cậu tính xong một lần thì nhẩm thêm ba lần nữa cho chắc, kết quả vẫn tròn trịa y chang. Ba mươi mốt viên nứt, mười hai viên vỡ hẳn, bốn viên bị rễ cây đội lên thành một cái gò nhỏ dưới chân bệ thờ.

Vị trí vệt nắng lọt chỗ mái sập chỉ đi qua nền chùa đúng một lần trong ngày. Điểm xuất phát của nó nằm ở hàng gạch sát ngưỡng cửa. Thời gian trôi qua, nó cứ chầm chậm mà bò, giữa trưa tới mép ổ rơm, xế chiều leo lên bệ thờ rồi tắt ngấm trên đầu gối pho tượng Bồ Tát. Đó là thước đo thời gian duy nhất cho người nằm một chỗ như Mộ Phong.

Định kỳ một ngày ba lần, Mộc An bắt mạch cho cậu. Lúc vệt nắng nằm ngưỡng cửa là lần đầu tiên, tới mép ổ rơm thì bắt lần hai, khi vệt nắng lờ mờ nơi pho tượng thì bắt mạch lần thứ ba. Quy trình ấy rất chỉn chu và đều đặn, Mộ Phong biết mình nên hoan hỉ ghi nhận, song vẫn có thứ gì đó khiến cậu lấn cấn. Có lẽ là nể, cũng có thể là ghen tị, vì nàng không cần đếm mà vẫn duy trì được trật tự.

Nàng cũng rất kiệm lời. Từ sau buổi sáng nói tên, có ngày nàng chỉ nói vỏn vẹn mười bốn câu, câu nào cũng dài cỡ hai đến ba chữ. "Đưa tay đây." "Thở chậm lại." "Nằm xuống." Mỗi lần khí trong người sôi lên, nàng không nói lời nào mà chỉ đặt tay vào lưng cậu, tự động tiếng ồn lại lắng xuống. Ban ngày chỉ bốn năm lần, tới đêm cần nhiều hơn.

Còn gã thuỷ thủ thường rời chùa từ tờ mờ sáng. Sáng hôm đầu tiên, gã lên mạn Bắc tìm ông lang ở ẩn có cây khế chua trước ngõ. Gần trưa gã về, đứng ở ngưỡng cửa lắc đầu một cái rồi thôi. Túi bạc cũ chắc đã nằm lại dưới đống vách đổ ở khu trọ sau chợ, gã cũng không quay lại lấy. Gã kể kế hoạch mới, rằng sẽ ra bến đò ngoài cổng Tây vác thuê, chỗ ấy chưa ai biết mặt gã. Chiều hôm đó, gã về lại gian chùa hoang với một túm gạo, một cái niêu đất, một nắm muối trắng cùng cái bát sành mẻ miệng. Gã bước vào là lấp đầy cả gian với mùi mồ hôi và mùi bao bố cũ.

Húc Đông tâm đắc nhất là cái bát sành. Gã đặt nó xuống cạnh ổ rơm và khoe rằng vác muối hai canh giờ cho lão lái buôn keo kiệt mặt quắt tai dơi thì xoay xở thêm được cái bát này. Mộ Phong nghe được thì giả vờ trở mình quay mặt vào bức vách, coi như chưa nghe thấy gì.

Hai cánh tay Mộ Phong cứ run lẩy bẩy theo từng đợt hàn nhiệt, nếu tự nhấc bát lên là cháo sánh ngay ra ngoài nên cậu không thể tự ăn. Mộc An kiêm luôn việc đó. Nàng đỡ lưng cậu dậy rồi dựa cậu vào cột, miệng bát cháo đặt kề môi cho cậu húp. Cậu nuốt xong một ngụm, nàng mới nghiêng bát thêm chút nữa.

Nỗi niềm khó nói này Mộ Phong không biết phải chia sẻ ra sao. Suốt quãng thời gian tám năm ở tông môn, cậu tự làm hết mọi thứ. Giặt giũ quần áo, băng bó vết thương, ngã thì tự dậy. Chưa ai phải giúp cậu chuyện gì, mà cậu cũng không nhờ. Vậy mà giờ đây… Mỗi ngụm cháo trôi xuống, cậu lại thấy bản thân nhỏ đi một chút, như con số bị trừ dần từng đơn vị. Cậu chỉ biết nuốt cho hết, bởi nếu bỏ dở thì nàng phải đợi lâu hơn.

Sang ngày thứ hai, Mộ Phong lập lại phép tính ngày về tổng đàn. Ba thang thuốc của gã họ Đỗ đổi thành ba ngày nằm ở ngôi chùa hoang này, thêm gần hai ngày đường, vẫn kịp về trước phiên chợ A Đồng đủ cân. Chỉ cần cậu đứng dậy được trước lần thứ ba vệt nắng tắt nơi đầu gối pho tượng Bồ Tát.

Mộ Phong thử tự đứng dậy ở ngày thứ ba, khi Mộc An ra con suối sau chùa giặt giũ còn Húc Đông đang ở ngoài bến đò. Cậu bám lấy cây cột mà đẩy người đứng lên từ từ, đầu óc quay cuồng thì đếm số cho nó nhanh trôi qua. Đếm tới bốn mươi lăm, hai chân cậu đã đứng được. Cậu nhấc chân tiến tới, một, hai, ba rồi bốn bước khó nhọc. Tới bước thứ năm thì hai đầu gối cậu tự gập lại như bị ai đá vào khoeo chân. Hơi lạnh lập tức bốc lên từ đầu ngón tay và ập vào luồng khí nóng ở ngực. Mộ Phong gục sấp trên nền gạch, má cậu tì sạt xuống viên gạch nứt thứ mười chín, cả thân hình không tài nào gượng dậy nổi.

Không bao lâu sau thì Mộc An về tới, nàng thấy người nằm đó liền đỡ dậy dìu về ổ rơm mà không hỏi câu nào. Thấy gân đen cựa quậy và thân nhiệt thất thường, nàng lập tức vận khí áp tay vào lưng cậu tới khi hai luồng khí bạo liệt kia ngủ yên.

Chẳng thà nàng cứ hỏi lấy một hai câu. Hoặc chửi mắng như Húc Đông cũng được. Chỉ cần nói gì đó khác với cái chu trình thường nhật, có lẽ Mộ Phong sẽ có thêm căn cứ để phân loại vào ngăn kéo.

Tới sáng ngày thứ tư mà vẫn chưa đi lại được, đầu óc Mộ Phong cứ thế xáo tung lên. Lẽ ra giờ này cậu đã phải ngồi trên một chuyến xe muối khác, đã ở đủ gần để thấy dãy núi sau tổng đàn. Mộ Phong cố gắng tính toán đường khác, nhưng lực bất tòng tâm. Bạc thì không có, khí tức hỗn loạn không thể đoán trước. Cậu tính lại từ đầu ba lần, lần nào cũng chỉ luẩn quẩn quanh ngôi chùa hoang này chứ không thể đi xa hơn được. Nếu không kịp, vậy ai sẽ chắn cho bọn nhỏ? Câu hỏi cậu từng ném vào mặt Húc Đông, giờ đây tự dội ngược lại vào đầu mình, kéo theo đôi hài còn để dành chưa dám đi, vết kiếm trên cẳng tay chưa lên da non, và cái dáng cúi chào thật sâu của A Đồng.

Buổi chiều, Mộc An múc nước đầy cái bát mẻ rồi đặt bên ổ rơm. Xong xuôi, nàng lại mang vải ra giặt bên bờ suối.

Mộ Phong nhìn cái bát một hồi. Phần nước trong bát phẳng lặng, in hình bóng mái chùa sập cùng khoảng trời xanh ngắt. Cậu nhớ cái bát này Húc Đông đã bỏ bao nhiêu công sức để có. Cậu nhớ cả cái bát rượu hai đứa truyền tay nhau ở nhà trọ trước đó. Dường như trên cõi đời này, cậu cần gì đều phải nhờ gã thuỷ thủ ấy đưa cho. Lần duy nhất cậu tự tay bưng bát lên, trong đó là thuốc độc.

Mộ Phong miễn cưỡng đẩy bản thân ngồi dậy, rồi cậu nhấc cái bát lên bằng cả hai bàn tay run rẩy. Dòng nước lạnh ngắt theo chỗ mẻ miệng mà sánh ra, chảy xuống cổ tay làm cậu rùng mình.

Cậu nhìn giọt nước chảy sâu xuống tới cẳng tay mà nghiến răng ken két. Nước lăn trên da, chảy qua bề mặt những đường đen ngoằn ngoèo. Rồi cậu đập cái bát xuống đất làm nó vỡ thành ba mảnh.

Cậu nhặt mảnh vỡ lớn nhất lên mà dí sát mắt vào ngắm nghía.

Ánh mắt cậu đờ đẫn hẳn đi khi nhận ra mép vỡ hắt lên một ánh nắng.

Trong đầu Mộ Phong, chỉ còn đúng một ngăn kéo chưa đóng, những ngăn khác đã gắn nhãn và niêm phong xong xuôi. Cậu tự nhủ, đóng nó lại là hết. Không còn bị thương hại, chẳng còn phải nợ ai, cũng triệt để chôn vùi tấm thân tàn này. Dòng suy nghĩ u uất ấy bó chặt lấy đầu óc Mộ Phong. Cậu xoay mép sành về phía mình, và tiếng ồn trong đầu bỗng im bặt, chuỗi số đếm dở cũng ngừng theo. Bằng chuyển động từ tốn của kẻ tưởng mình đã thấu suốt hồng trần, Mộ Phong đặt miếng bát vỡ ngay trên cổ tay còn lại.

Còn chưa kịp cảm nhận đường viền sứt mẻ trên da thịt mình, một bàn tay khác đã chụp lấy mảnh sành. Mộ Phong không nghe ra tiếng chân hay bóng người nào vọt qua ngưỡng cửa, ngay lúc này đây cậu chỉ kịp nhận ra bàn tay kia đang nắm vào đúng mép vỡ của mảnh sành, chặt đến mức cậu còn tự cảm nhận được mạch đập truyền từ lòng bàn tay ấy qua miếng bát vỡ.

Máu tươi ứa ra, trào qua kẽ ngón tay rồi nhỏ những giọt tròn xuống nền gạch.

Mộ Phong ngước lên, trông thấy Mộc An đang quỳ trước mặt mình, tóc hẵng còn ướt nước suối, vạt áo đã loang mấy vệt bùn. Đôi mắt nàng lúc này mở to hết cỡ. Mấy ngày qua, Mộ Phong tưởng đôi mắt ấy chỉ biết tĩnh như nước giếng, chứ chưa từng nghĩ sẽ thấy chúng bừng cháy như hai ngọn đuốc thế này.

Mộc An vẫn chẳng nói gì, nàng cúi xuống gỡ từng ngón tay cậu ra khỏi mảnh sành. Mộ Phong không chắc mình nên giữ hay nên để mặc. Chuỗi số tự quay về số một, cậu nhẩm đếm theo, tay vẫn cảm nhận được cái gỡ ngập ngừng của nàng tiên tử áo trắng, như chưa biết nên giật mạnh ra hay gỡ thật nhẹ. Đếm tới ba thì mảnh sành đã không còn trong tay, đôi mi lẫn bờ vai cậu cùng chùng xuống thật sâu.

Mộc An ném mảnh sành qua tường chùa, tiện tay vơ hai mảnh còn lại mà ném theo. Rồi nàng lựa ngay chỗ mấy giọt máu vừa rớt mà ngồi thụp xuống, bàn tay bị cứa đặt ngửa trên đùi.

"Ta ngồi đây." Nàng nói.

Mộ Phong đưa tay lên vuốt phần tóc bết lại vì mồ hôi trên trán rồi khó nhọc nằm xuống. Cậu quay mặt vào vách, hai tai nóng bừng. Sau lưng cậu vang lên tiếng vải xé, rồi tiếng vải quấn sột soạt. Dù không nhìn, Mộ Phong vẫn biết pho tượng Bồ Tát sau lưng nàng đang ngồi im lìm trên bệ. Có lẽ Ngài đủ từ bi mà rủ mắt cho qua, coi như chưa từng thấy giọt nước tràn ly ban nãy.

Lúc lâu sau, ngoài sân vọng lại tiếng hát lạc điệu mỗi lúc một gần của dân đi biển.

---

Cả ngày đó Húc Đông đi vác muối cho lão lái buôn keo kiệt nhất phủ, được lão trả ba chục đồng mà phải nghe chửi tới mấy bận vì lỡ làm rách một bao.

Lúc bị chửi, gã chỉ mải nghĩ chuyện riêng. Lão già có tuổi, được ăn ngon mặc đẹp, chả hiểu thế nào mà chửi nghe như con gà cục tác, con chó ăng ẳng, còn thua xa cái màn vừa chửi vừa thở của thằng nhóc mặt lạnh đang co quắp ở nhà. Càng nghĩ, mặt gã càng nghệt ra, môi còn bĩu dài thêm, làm lão già tức sôi máu mà giẫm bình bịch xuống đất.

Trên đường về, Húc Đông lội xuống con suối sau chùa để bắt cá. Bắt cá trê thì có gì khó, gã chẳng cần canh nhịp hay vung lưới, cứ đứng im trong nước một lúc rồi chộp nhanh là trúng ngay ba con. Vừa đủ một bữa cho ba đứa. Gã xâu ba con cá vào một cọng lau, bẻ thêm một buồng chuối dại mọc sau tường chùa. Rồi vừa đi gã vừa hò khúc kéo lưới của đám bạn thuyền. Gã cứ quen miệng hát mỗi câu đầu cho cả bài chứ chẳng buồn học lại lời. Nghe đúng giai điệu là được, cần quái gì chữ với nghĩa.

Tới bậc sân trước chính điện thì gã khựng lại.

Gã trông thấy Mộc An đang ngồi chắn ngay trước mặt thằng nhóc, còn Mộ Phong lại đang quay mặt về bức vách, hai cái tai nó đỏ lựng như tôm luộc.

Vừa nghe tiếng chân gã, Mộc An liền giấu một bàn tay vào ống áo mà chẳng quay đầu lại, dù bình thường cô ấy hay gật đầu chào nhẹ. Cái cử chỉ lấm lét đó giống như đám lừa đảo ở chợ phiên, nhưng vụng về và ngây ngô hơn nhiều.

Húc Đông đứng yên ở bậc sân, cách ngưỡng cửa chừng mươi bước. Ngoài bến, cứ thấy hai chiếc thuyền buộc sát mạn nhau giữa bến vắng là gã biết vì lẽ gì, ở đây cũng thế thôi. Cái tai đỏ lựng, bàn tay giấu vội, còn chuyện gì nữa? Rồi gã lùi ra một bước, hắng giọng ho một tiếng thật to. Loay hoay thêm một lúc, gã lùi thêm bước nữa, thuận chân giẫm gãy một cành củi khô cho chắc. Gã thầm đếm trong đầu tới mười mới bước tiếp, lần này dậm chân thật mạnh.

"Cá trê!" Gã giơ xâu cá lên cao. "Cá vùng này béo thật, tròn quay như đám lái buôn."

Mộc An còn gật đầu ra chiều nghe được, chứ thằng nhóc vẫn quay về bức vách. Húc Đông lại hắng giọng, gã đặt cá xuống cạnh ổ rơm rồi tìm cái bát để múc nước. Nhưng ngó ngang ngó dọc hồi lâu cũng không thấy.

"Cái bát đâu?"

"Vỡ rồi." Mộc An đáp gọn.

"Vỡ?" Gã kêu lên như bị ai giẫm vào chân. "Hai canh giờ vác muối của ta đấy! Mới có ba ngày!"

Vì lẽ nào đó mà không ai đáp lời, làm Húc Đông nhìn qua lại giữa hai đứa nó một lúc, tay gã chống nạnh còn miệng lệch qua một bên. Mộc An vẫn ngồi yên, chẳng nhích đi nửa phân, còn tai thằng nhóc đỏ đậm hơn, thiếu điều đổi qua màu tím tới nơi.

Gã tặc lưỡi cho qua, tự nhủ chuyện người trẻ thì quan tâm làm gì, dù gã chẳng hơn tụi nó bao nhiêu tuổi. Mà vỡ bát thì ăn bằng lá chuối vậy, mai lại kiếm cái bát khác.

Chập tối, gã nhóm một đống lửa giữa sân chùa, cắm ba con cá trê nghiêng quanh lửa. Mỡ cá nhỏ xuống than kêu xèo xèo, mùi thơm bốc lên tận mái. Mộc An dìu thằng nhóc ra ngồi tựa lưng vào bậc thềm. Húc Đông để ý thấy cô dìu nó bằng một tay, tay kia vẫn giấu trong ống áo. Gã nhoẻn miệng cười, chắc mẩm đang ngượng thì giấu tay thôi.

Gã gỡ con cá to nhất đặt lên một tàu lá chuối, đẩy sang trước mặt Mộc An. "Cô ăn đi. Cả ngày ngồi canh nó cũng mệt rồi."

"Ta không ăn thịt."

"Cá cũng tính là thịt à?"

"Tính chứ." Mộc An đáp mà không cười.

Húc Đông gãi đầu cười hề hề, rồi bẻ cho cô cả nửa buồng chuối. Thứ chuối dại này hột nhiều hơn thịt, nếu nhai hết thì sạn cả răng. Cho nên gã không lạ lắm khi Mộc An ăn từng quả một rồi nhằn hột, nhưng phải há hốc mồm khi thấy cô nhằn hột vào lòng bàn tay rồi gom thành một đống nhỏ ngay ngắn bên cạnh. Gã quay ngoắt đầu nhìn sang thằng nhóc. Chả nhẽ thứ gì qua tay nó cũng ngay hàng thẳng lối hết như vậy sao? Hai cái đứa này quả nhiên chung một giuộc.

Thằng nhóc đảo mắt, chắc nó lại giả vờ không hiểu gì, rồi nó đòi tự bóc chuối. Hai bàn tay nó run lẩy bẩy, dùng lực bóc vỏ như thường thì chắc không nổi, nên nó tước từng dải vỏ to ngang nhau rồi xếp ngay ngắn trên đùi. Húc Đông nhìn nó bóc mà muốn lộn ruột, gã toan chồm tới định bóc hộ thì bị nó lườm cho một cái. Mấy ngày trời nó nằm im trong ngôi chùa rách nát này, tới hôm nay mới là cái lườm đầu tiên. Gã rụt ngay về, mông chưa kịp đặt xuống chỗ thì miệng đã chìa hết răng ra.

"Bao giờ thì nó đi được?" Gã hỏi Mộc An.

"Ta không biết." Cô đáp, mắt nhìn phía ngọn lửa. Một lúc sau, cô nói tiếp. "Ngược con suối này chừng nửa ngày đường có một ngôi chùa hoang khác, gác chuông sập mất một góc. Lỡ có chuyện phải lạc nhau, huynh cứ đi ngược con suối."

"Sao cô biết?"

"Ta đi qua rồi. Đường nào qua một lần, ta đều nhớ."

Một bên chân mày gã nhướng lên thật cao, gã nhìn chằm chằm hai cái đứa mặt cứ tỉnh queo này mà trong lòng không khỏi sinh nghi.

"Cô định dắt nó trốn đi đâu đấy à?"

Câu hỏi bất chợt đó của gã khiến thằng nhóc sặc chuối, nó ho sặc sụa, mặt đỏ lựng đến mang tai, hột chuối văng cả ra đất. Húc Đông vỗ đùi đánh đét một cái như mới thắng bạc, rồi gã đủng đỉnh chia đôi con cá mà Mộc An không ăn, một nửa có cái đầu gã để vào phần của thằng nhóc, còn khúc đuôi đặt lại phía mình.

Mộc An không phản ứng gì, chỉ quay sang khi thằng nhóc bị sặc. Mà thực ra là có, nếu tính cái ánh nhìn thẳng thật lâu cô dành cho nó. Húc Đông chỉ liếc qua một lần, rồi ngầm coi ánh nhìn ấy là một lời tụi nó không dám nói cho nhau nghe.

Đêm xuống, gã vẫn nằm chỗ ngưỡng cửa chính điện như mọi bận, nhưng hôm nay quay lưng vào trong để hai đứa kia khỏi ngượng. Gã tính mai sẽ vác thêm hai canh giờ muối, mua một cái bát mới. Hoặc mua hai cái nhỏ hơn cũng được, mỗi đứa một cái cho đỡ phải giành. Ý nghĩ ấy làm gã cười khục khục trong cổ họng. Hoặc chí ít, gã nghĩ mình đã thực sự cười trước khi tiếng ngáy lại khoả lấp mọi thanh âm khác.

Mộc An thì ngược lại, nàng chưa ngủ. Bàn tay trái giấu trong ống áo vẫn còn rần rật đập theo từng nhịp tim. Hồi chiều, lúc Mộ Phong quay mặt vào vách, nàng đã xé một dải vải ở vạt áo trong để quấn chặt, ngăn máu khỏi thấm ra ngoài. Giờ khi đêm xuống, nàng ngồi giữa hai kẻ đang ngủ, lưng dựa bệ thờ còn tai dỏng lên nghe.

Tiếng màn đêm ở ngôi chùa hoang này rất dễ nhận biết. Thi thoảng dế kêu, lúc lại tiếng lá tre cọ vào nhau, rõ nét nhất là tiếng con suối chảy qua mấy hòn đá. Còn trong gian chùa này, vẫn là hai tiếng chân khí quen thuộc. Của Húc Đông là thứ nước nàng chưa gọi được tên, ồn ào mà đều đặn, nghe lâu có thể ru được người ta ngủ cùng. Còn của Mộ Phong thì hệt như chuỗi số, đếm không xong lại quay về điểm xuất phát.

Hồi chiều, có một lúc nàng không nghe ra tiếng ấy nữa. Sự im lặng đó rất sai, bởi dù có ngủ thì con số vẫn chạy. Nàng biết con số chỉ thôi chạy khi chính người đếm không muốn đếm nữa. Mộc An đã chạy thật nhanh về chùa ngay khi nghĩ như vậy.

Giờ đây, khi chỉ còn tiếng chân khí đáp lời, nàng mới dám trút bỏ hòn đá đã đè nặng trong lòng từ lúc thấy mảnh sành. Thật may là chạy về kịp.

Nhưng từ đêm giải vây cho Mộ Phong và Húc Đông ở khu trọ nọ, nàng bắt đầu nghe cả những khoảng lặng. Cái bóng cao lớn trong góc khuất đêm ấy đã cho nàng biết có thứ im lặng đáng sợ hơn mọi tiếng rít. Nàng nghe một lượt quanh chùa, từ rặng tre tới con đường đất, không thấy chỗ lặng nào bất thường.

Gần canh ba, tai nàng bắt được một thứ tiếng rất khác vọng tới từ phía con đường đất. Tiếng động ấy nghe như ai vừa dốc cả một rổ lươn trạch xuống sân để chúng lúc nhúc bò lên nhau. Nàng gạt ngay suy nghĩ về những người luyện dị bản tà công, bởi họ chỉ nghe như những ấm nước lúc sôi lúc nguội, đến cả những kẻ định đánh Mộ Phong cũng như vậy.

Còn thứ này, tuyệt đối không thể là cùng một nguồn. Chúng trườn bò, quấn chặt lấy nhau, tiếng động nghe nhớp nháp tới gai người. Nàng đếm được mười một cái nguồn như vậy, tất thảy đều đang tiến về phía cổng ngôi chùa hoang này.

Đâu đó sau rặng tre, một tiếng tiêu mảnh và cao cất lên, được ngắt thành từng đoạn ngắn. Trong tai nàng, nó chỉ là một tiếng nữa giữa trăm tiếng khác, lẫn trong tiếng dế, tiếng lá tre, tiếng suối và tiếng lúc nhúc đang tràn tới cổng chùa.

Mộc An nhanh chóng bật dậy, tay với đến vai Húc Đông. Gã liền mở mắt, như thể mấy canh giờ vừa rồi gã chưa thực sự ngủ. Rất nhanh, gã hướng mắt theo ánh nhìn của Mộc An ra sân và lập tức ngồi dậy.

Họ trông thấy bọn chúng tràn qua cổng chùa dưới ánh trăng sáng vằng vặc. Mười một cái bóng thấp bé, có cái chạy tới bằng hai chân, cái thì chồm cả hai tay xuống đất. Vào gần hơn mới nhìn được rõ, gân đen đã chằng chịt quanh người chúng như rễ cây trồi khỏi mặt đất. Những u cục lồi lên dưới da, có chỗ đã vỡ và chảy mủ. Cái bóng cao nhất ước chừng chỉ tới vai Húc Đông.

Một ý nghĩ xẹt qua khiến Mộc An phải bấu chặt vào vai Húc Đông, và nàng nghe tiếng thở của gã cũng nghẹt cứng lại. Mười một cái nhân dạng gân đen đang tiến vào kia đều mới là trẻ con.

Mộc An bước lên trước, nàng đẩy ra một chưởng phong từ xa như đêm ở khu trọ. Ba nhân dạng đi đầu liền khựng lại, tiếng lúc nhúc trong người chúng lắng xuống như có ai phủ một lớp vải che đi miệng rổ đầy lươn trạch. Tiếng động bên trong lịm đi thì thân hình bên ngoài tự động đổ ra cỏ. Tới nhịp thở thứ mười một, giữa tiếng dế và tiếng tiêu, chúng lại vùng dậy và cựa quậy mạnh hơn.

Ở khu trọ, chưởng phong từ xa giữ được đám người trúng thuốc ngủ tới lúc nàng đi khuất, giờ đây chỉ đủ mười nhịp thở. Nàng cố gắng chưởng thêm một đợt nữa, nhưng vô ích, đám nhỏ vẫn chỉ nằm được chừng ấy.

Húc Đông cũng nhanh chóng chạy ra phía trước, gã xuống thủ thế chuẩn bị tinh thần giao chiến. Thế mà phần đông đám nhỏ không nhắm vào gã, chúng luồn lách qua mỗi cú gạt và quét chân của gã để nhắm thẳng tới Mộc An. Nàng né tới đâu, chúng nhắm tới đó, như kẻ khát tìm về miệng giếng. Đêm ở khu trọ, đám ấm nước dồn cả về chiếc ấm sôi to nhất, còn đám nhỏ này lại đi theo hướng ngược hẳn. Nàng liền nghĩ tới chân khí của mình. Quanh ngôi chùa này, khí tức của nàng là phẳng lặng nhất, có lẽ thứ nhung nhúc trong người chúng thèm khát sự yên tĩnh đó.

Sau lưng Mộc An, Mộ Phong đã chống tường đứng dậy, nhịp thở của cậu cứ chồng lên nhau như đê vỡ. Nàng nhớ rõ khoảnh khắc cậu nhắm cái mảnh sành vào cổ tay hồi chiều, nên nếu biết đám nhỏ này nhắm vào mình thì có lẽ cậu còn dùng thân mình ra chắn trước nữa. Nghĩ đoạn, Mộc An mím môi né tiếp, không nói một lời. Nàng lùi dần sang trái, kéo đám nhỏ ra xa khỏi chỗ Mộ Phong đang đứng.

Ngoài sân, Húc Đông vẫn loay hoay vờn nhau với mấy đứa. Còn ở chỗ mái hiên, Mộc An chỉ giữ mình né chiêu. Cả hai không nhìn nhau, cũng chẳng hẹn trước, nhưng đều không dám đánh tới. Mỗi lần một đứa xồ tới, nàng lại nhận ra nó chỉ đang độ lên chín, lên mười. Trong đầu nàng, mấy câu kinh đã thuộc từ thuở nhỏ cứ tự tụng lên, câu này nối câu kia, và nàng bám vào chúng mà tránh.

Một bàn tay đen sì vồ tới trước mặt Mộc An, nàng nghiêng mình né rồi dùng ống tay áo gạt nó đi. Lực đạo của nàng dư sức bẻ ngoặt bàn tay nọ, nhưng nàng không làm vậy. Nàng để bàn tay đó lướt qua, thuận thế đẩy nhẹ cho đứa nhỏ chúi qua một bên để mở đường né sang hướng khác. Ngoài kia, thứ nước của Húc Đông cứ cuồn cuộn rồi tự nghẽn lại như va phải một bức tường vô hình trong người.

Đúng lúc ấy, từ phía sau, nhịp thở như đếm số của Mộ Phong xô vào nhau một lượt, rồi đổ ào ra như chồng thẻ tre bị hất tung ra đất.

---

Tiếng tiêu kéo Mộ Phong dậy trước cả tiếng chân.

Cậu biết thứ tiếng ấy. Những đêm ngồi xếp bằng trước cái vại trong nhà đá, cậu vẫn nghe nó vọng sang từ phía sau bức tường, chỗ có hộ pháp đứng canh. Ba tiếng ngắn, một tiếng dài, nghỉ, rồi lại ba tiếng ngắn. Có một đêm, tiếng tiêu chen vào nhịp thứ hai trăm mười khiến cậu phải lẩm nhẩm đếm lại từ đầu. Đêm ấy cậu chưa dẫn khí, nên ngoài một chuỗi số phải đếm lại thì chẳng mất gì.

Mộ Phong chưa từng hỏi tiếng tiêu ấy dùng để làm gì. Trong tông môn, điều gì sư phụ chưa nói thì đệ tử không được hỏi. Cho nên cậu đã ném nó vào ngăn kéo tận cùng, dán nhãn niêm phong rồi lãng quên luôn.

Giờ đây, âm thanh đó đang vút lên ngoài rặng tre. Khi mười một bóng đen kia tràn vào sân, cái ngăn kéo hôm ấy mới chợt bung khoá.

Chắc chắn bọn chúng tới lùng cậu. Cậu đã đào tẩu, trong đầu còn mang bản chép khẩu quyết sư phụ tự tay trao. Bàn tay phải Mộ Phong vẫn theo thói quen suốt tám năm ròng vụt chộp xuống hông. Nhưng ngón tay quờ quạng mãi cũng chỉ loe ngoe vào khoảng trống. Thanh kiếm tông cấp vẫn dựng ở đầu giường trong trại, ngay trên tấm ván lỏng. Mộ Phong chua xót ngộ ra rằng trong sổ binh khí, nó sẽ mãi chỉ là một dòng mực có tên cậu. Tám năm qua, cậu chưa từng sở hữu một thanh kiếm của riêng mình.

Một cái bóng nhỏ lách được qua vòng tay Húc Đông ngoài sân mà lao vào trong gian. Mộ Phong đành dồn khí ném đi một chưởng. Luồng khí nhiễu loạn bị rút cạn khỏi đan điền, xộc qua hai bả vai đang run lẩy bẩy rồi phóng ra. Nỗ lực ấy làm rách toạc ra một đường trong lồng ngực cậu.

Chưởng đánh trúng làm cái bóng lăn mấy vòng trên cỏ, rồi nó lồm cồm bò dậy. Ánh trăng rọi trúng ngay xuống chân nhân dạng kia, cho thấy nó đang mang một đôi hài vẫn còn mới, đế chưa mòn dẫu cho bùn đã bết tới mắt cá.

Cậu nhận ra đôi hài do cậu tự tay mua hôm phiên chợ mồng ba. Đứa nhỏ đứng đầu hàng bên phải đã khư khư giữ lấy, nó từng bảo của để dành, không dám đi.

Mộ Phong chết trân, cậu đảo mắt sang những thân ảnh khác ngoài sân. Mặt chúng đều bị gân đen quấn siết, những u cục lở loét kéo lệch cả đi. Cậu chỉ còn nhận ra chúng qua những thứ còn lại trên người. Một đứa cao vượt trội cứ lảng về cuối đám như thói quen ngại ngùng nhường chỗ. Một đứa buộc mớ tóc bết bằng sợi dây gai. Một đứa nhe răng gầm gừ lộ rõ khoảng trống ở hai chiếc răng cửa. Lại có đứa quấn quanh cẳng tay một dải vải ngả màu bùn, buộc bằng nút kép với hai đầu dây dài bằng nhau. Trăm nút như một, cậu luôn thắt ngay ngắn như vậy.

Rồi cậu chững lại trước một đứa đang vật nhau với Húc Đông. Gân đen đã bò tới ngang quai hàm, hẵng còn chừa lại đôi mắt, sống mũi với cái miệng. Nó là đứa gầy nhất bọn, đứng thứ tư từ đầu hàng bên trái. Nó khom người rạp xuống né đi cú gạt của Húc Đông, hệt như cái lần nó cúi thật sâu chào cậu rồi chạy biến vào trong sảnh. Ngay sau đó, nó bật ra lao về phía gian trong.

Theo phép tính của cậu, A Đồng chưa tới phiên chợ đủ cân. Phép tính ấy cậu đã làm đi làm lại suốt mấy ngày nay, và lần nào kết quả cũng nói giờ chưa phải lúc.

Đang lúc luẩn quẩn trong đầu tìm ra lỗ hổng tính toán, một bàn tay nhỏ thó túm chặt cổ áo cậu mà lôi xềnh xệch về phía cổng chùa. Mấy chục ngón tay khác thi nhau cấu vào tay áo, vào ống quần, kéo cậu đi như lôi một con trâu lạc về lò mổ. Mộ Phong vét chút khí tàn tụ vào hai lòng bàn tay, dứt khoát đẩy từng đứa ra xa. Lực cậu căn đủ mạnh để chúng tuột tay, lại đủ nhẹ để chúng còn đường gượng dậy, nhưng cũng đủ khiến ngực cậu rách thêm một tấc. Tới chưởng thứ bảy, máu tanh trào vào họng rồi tứa ra qua miệng.

Cùng lúc ấy, một tiếng động dội vào trong. Đó là một tiếng gãy giòn tan. Giữa sân, gã thuỷ thủ vừa ra một quyền. Cái bóng nhỏ với sợi dây gai trên đầu ngã sấp mặt, im lìm nằm dưới chân Húc Đông.

"Đừng giết!" Mộ Phong gào lên, máu tanh hoà lẫn rớt dãi liên tục văng ra. "Là bọn nhỏ! Bọn nhỏ khu Tây!"

Mộ Phong biết gã thuỷ thủ nghe thấy, vì bả vai gã vừa khựng lại một nhịp. Rồi gã cắn răng xoay người, vung tay đón lấy cái bóng kế tiếp.

Bàn tay còn lành lặn của Mộc An bấu lấy cánh tay cậu, kéo cậu về phía bóng tối sau lưng chùa nơi con suối đang chảy. Mộ Phong vùng vằng giằng ra, nhưng nàng siết chặt hơn. Bên trong Mộ Phong lúc này đã cạn sạch sức lực, không thể tiếp tục giằng co. Mộc An dứt khoát xốc cậu lên lưng rồi cắm cổ chạy. Tiếng tiêu réo rắt sau rặng tre vẫn liên hồi xoáy vào màng nhĩ.

Tì cằm trên hõm vai nàng, Mộ Phong ngoái đầu lại. Dưới sân chùa ngập ánh trăng, gã thuỷ thủ vẫn đang đánh. Thứ võ vẽ cậu tưởng là cợt nhả trên lôi đài mạn Bắc, nay đã biến đâu mất. Gã nện quyền đầu tiên xuống một điểm, rồi lại lập tức dộng một quyền nữa vào đúng điểm ấy, dồn dập tới mức Mộ Phong đếm không kịp. Cú sau bồi lên cú trước tựa những con sóng xô vào nhau. Tới chiêu cuối cùng, thân ảnh gân đen trước mặt gã gập đôi người lại rồi đổ ụp xuống.

Nhất ba tài động, vạn lãng tương tùy. Câu khẩu quyết thứ tư.

Cậu đã khắc ghi nó từ những đêm nằm nghe gã nói mớ. Đây là lần đầu tiên cậu thấy nó hoá thành kình lực vọt ra từ quyền cước. Lần đầu tiên trong đời Mộ Phong, việc gọi đúng tên một đường võ lại cướp đi mọi tia hy vọng hoá giải.

Ánh trăng, rặng tre, tiếng tiêu, tất cả đồng loạt rơi rụng khỏi tâm trí Mộ Phong. Con số cậu đang đếm dở cũng trôi vào khoảng không, vĩnh viễn cậu không thể biết nó dừng lại ở nhịp thứ bao nhiêu.

---

Khi đã lao vào tử chiến, Húc Đông chỉ nhìn thấy sóng. Con sóng trước mặt ập tới nhanh hay chậm thì đôi chân gã tự có câu trả lời. Ngoài rặng tre có kẻ thổi tiêu. Tiếng tiêu bám riết lấy màn đêm, trà trộn vào tiếng dế kêu, tiếng xào xạc của lá tre và tiếng thở hồng hộc rát bỏng của chính gã. Gã coi nó như tiếng chim lợn gọi hồn, nghe tọt vào tai rồi thây kệ.

Đám bóng đen lít nhít cứ cắm đầu lao về lối mòn sau chùa, hướng Mộc An vừa cõng thằng nhóc mặt lạnh lẩn trốn. Lần nào chúng cũng đập phải người gã. Húc Đông cắm rễ ngay đầu lối đi, hệt như người cầm lái đứng chắn mũi thuyền trước cơn bão lớn. Rồi gã tiếp tục tung quyền.

Gã nghe rành rọt tiếng hét rách họng của thằng nhóc. Gã đã biết chúng là ai từ trước khi lời van xin ấy thốt ra. Trong đầu gã vẫn còn nguyên hình ảnh cái vại trùm vải đỏ trong nhà đá cùng thứ âm thanh gớm ghiếc dưới lớp màn. Gã nhớ hết, cả lời rỉ tai của lão quét lá ở sân sau về mấy đứa vào trước giờ đã không tự đi lại được nữa. Đêm nay thì chạy được cả rồi, lại còn dùng cả bốn chi.

Thuở còn đi biển, gã từng cùng bạn tàu trục vớt những cái xác trương phình ngâm nước ba ngày ba đêm lên mạn ván. Dân thuỷ thủ cấm kỵ gọi tên người chết trôi. Họ chỉ lầm rầm vuốt mắt cho cái xác, rồi nai lưng làm cho xong phần việc buộc phải làm. Cho nên, dù thằng nhóc có gào lên thế nào đi nữa, Húc Đông cũng sẽ không gọi tên bọn nó ra.

Từ lúc vung nắm đấm đầu tiên, gã đã nhận ra tay mình không còn phanh lại được. Đó là thứ quy tắc gã căm phẫn nhất ở trò một chọi nhiều. Bản năng sinh tồn ép con sóng sau phải lấn lướt con sóng trước, và tới khi gã bừng tỉnh thì máu đã nhuộm đám cỏ dưới chân.

Cái bóng thứ tám vừa đổ sụp xuống đất thì một gương mặt gầy gò vọt thẳng vào tầm tay gã. Một gương mặt vẫn giữ vẹn nguyên nhân dạng, gân đen chỉ mới bò tới ngang quai hàm. Đứa gầy nhất trong đám nhóc khu Tây, cái thằng hôm nọ chực chờ chạy lại phía gã giữa sân tập rồi lại rụt rè lùi bước.

Quyền của Húc Đông phóng ra đã đi hết nửa đường. Cả một đời luân lạc, gã chưa từng ghìm được một nắm đấm đã ra tay, nhưng ngay lúc này thì gã ép mình làm vậy. Khớp ngón tay gã rít lên bần bật, nắm đấm khựng lại cách sống mũi thằng bé đúng một đốt ngón tay. Lực đã ra nửa đường không còn chỗ đi, dội ngược vào cánh tay phải làm gã tê buốt từ cổ tay lên tới vai. Gã xoè bàn tay thô ráp ra đẩy thằng bé ngã lăn xuống bãi cỏ.

Cái bóng thứ chín lao tới cắn trộm từ bên trái. Gã giật mình vung cùi chỏ trái, làm thân ảnh nhỏ thó ấy đổ gục tại chỗ.

Giữa sân lúc này sót lại hai cái bóng lảo đảo cắm chân trên đất. Một là thằng nhóc gầy gò A Đồng. Đứa còn lại thấp tịt, gân đen trùm kín ngũ quan, gã vắt óc cũng không nhận ra nó từng mang khuôn mặt nào. Gã còn đang thủ thế chờ thì hai thân ảnh con con cùng khựng lại, như cá nghe một tiếng động dưới nước. Rồi chúng quay lưng bò qua ngưỡng cổng, tan biến vào rặng tre mù mịt như thuỷ triều rút vội.

Hai chân Húc Đông cứng đờ ra, hai cánh tay rũ xuống. Gã cứ thế đứng chết trân tại chỗ.

Sau trận quần thảo, sân chùa được trả lại vẻ tĩnh mịch vốn có. Tiếng dế đã bặt tăm từ đời nào, tiếng tiêu ngoài rặng tre cũng đã tắt. Mọi thứ tiếng đã khuấy động màn đêm giờ đây đều lẫn vào sự im lặng của khoảng sân. Đống lửa nướng cá trê hồi chập tối chỉ còn trơ lại vài vụn than tàn hoe đỏ. Gã thuỷ thủ đứng trơ trọi giữa mảnh sân, hai cánh tay nặng trịch, đốt ngón tay rách toạc, cánh tay phải vẫn chưa hết tê. Quanh gã, chín cái bóng nhỏ nằm rải rác trên cỏ dại.

Gã lầm lũi bước tới nhặt từng đứa một, xếp chúng nằm ngay ngắn thành một hàng dưới mái hiên chính điện, đứa cao nhất nằm cuối hàng. Ngày trước, ở sân gạch khu Tây, chúng vẫn đội nắng đứng tấn theo đúng thứ tự ấy. Gã vòng ra sau tường chùa bẻ một ôm lá chuối dại về đậy mặt bọn nhỏ.

Chín tàu lá xanh. Gã lẩm nhẩm đếm đi đếm lại hai lần cho chắc ăn, y hệt cái thói quen gàn dở của thằng nhóc kia.

Lúc gã đi ngang bệ thờ, pho tượng Bồ Tát vẫn rủ mắt im lìm. Mấy hôm trước gã còn nhếch mép châm chọc Ngài trông như gã hoà thượng ngủ gật giữa buổi tụng kinh. Đêm nay ngẩng nhìn, gã tưởng như Ngài đang xót xa khép hờ mi mắt vì không nỡ nhìn xuống khoảng sân nhuốm máu.

Đậy xong cho đứa nhỏ cuối cùng, Húc Đông thất thểu lội xuống lòng suối cạn sau chùa. Dòng nước lạnh buốt cắn ngập đầu gối, cuốn trôi từng vệt máu tanh tưởi trên hai bàn tay gã. Gã lầm lì đi ngược dòng nước, tuân đúng lời dặn dò của Mộc An lúc chập tối. Mới mấy canh giờ trước gã còn nhe răng cười cợt, gặng hỏi cô nương áo trắng định dắt thằng nhóc trốn đi đâu.

Gã lội nước miết qua hết phần thời gian còn lại của đêm đen, miệng cấm khẩu không rặn ra nổi nửa câu hò kéo lưới quen thuộc.


0