Chương 50: Chậu Nước Đồng
Phong Sương Niên Ký
Mục lục
52 chươngCuộn, vuốt hoặc dùng hai nút để xem thêm Đã tải 52/52 chương
Hai mươi sáu ngày sau, cỗ xe voi tới Phượng Thê.
Luân đứng ở cửa sổ tầng dưới, hai tay bám chấn song, và hắn không thở.
Kinh thành không hiện ra một lúc. Kinh thành hiện ra từ từ, như người ta mở dần một bức tranh cuộn. Đầu tiên là một vệt xám nằm vắt ngang chân trời, xa tít tắp, dài tới mức nhìn sang trái không thấy đầu, nhìn sang phải không thấy cuối. Rồi cái vệt xám ấy cao dần lên, cao dần lên, thành một bức tường. Tường thành xây bằng đá ong với gạch vồ, cao hơn cả ngọn tre làng, trên mặt tường rộng đủ cho hai con ngựa chạy song song, cứ trăm bước lại một vọng lâu mái cong, cờ đỏ cờ vàng bay phần phật. Bức tường thành đá cũ kỹ trên đỉnh đồi Lò Trấu, cái bức tường mà cả đời hắn tưởng là to nhất thiên hạ, đặt cạnh bức tường này thì chỉ như cái bờ rào dâm bụt.
Rồi tới cổng. Cổng thành có ba cửa vòm, cửa giữa cao tới mức bốn con voi đi qua không phải cúi đầu. Trên cổng là một tòa lầu hai tầng, mái lợp ngói lưu ly vàng, dưới nắng tháng Bảy sáng rực lên như mái nhà làm bằng lửa.
Rồi tới phố. Phố lát gạch. Phố nối phố, phường nối phường, mái nhà san sát như vảy cá, cao thấp nhấp nhô, ngói đỏ, ngói xám, ngói âm dương. Biển hiệu sơn son thếp vàng treo trước cửa hiệu. Hàng tơ, hàng thiếc, hàng mã, hàng đồng, hàng bạc, mỗi phố một nghề, tiếng búa gò đồng chan chát, tiếng người rao lanh lảnh, tiếng xe ngựa lọc cọc, tiếng chuông chùa ngân nga đâu đó xa xa. Người đi lại đông tới mức cỗ xe voi phải có lính đi trước dẹp đường. Luân chưa bao giờ nghĩ trên đời lại có nhiều người đến thế ở cùng một chỗ, mà không phải là đi chạy loạn.
Và xa xa, ở giữa lòng kinh thành, trên một khu đất cao, sau những lớp tường đỏ và những hàng cây cổ thụ, có những mái cung điện. Mái cong vút lên trời như cánh chim. Ngói vàng rực. Đầu đao chạm rồng uốn khúc. Cả một vùng mái vàng ấy, dưới nắng chiều, trông như một đám mây vàng đậu xuống giữa kinh thành rồi quên bay đi.
"Hoàng thành đấy." Phát ghé sát tai hắn. "Vua ở trong ấy. Phủ Thượng Phụ ở mé Đông. Phủ Thái Úy ở mé Tây. Hai phủ nhìn nhau qua cái hồ, như hai con gà chọi nhìn nhau qua cái rổ."
Luân nhìn mái vàng. Hắn nghĩ tới cái làng nhỏ như cái nong thuốc, cháy trụi một đêm tháng Hai. Hắn nghĩ, cái nong thuốc ấy mà đặt vào giữa kinh thành này, chắc người ta đi qua cũng không nhìn thấy.
Kỳ Võ Hội mở vào rằm tháng Tám, ở bãi Giảng Võ, phía Tây kinh thành.
Luân thuê một góc gác xép trong một nhà trọ ở phường bên cạnh bãi. Gác xép thấp tới mức đứng thẳng thì cộc đầu vào xà, mùa hè nóng như cái lò nung, được cái rẻ. Hắn đem thoi bạc ra hiệu bạc phố Hàng Bạc đổi lấy tiền kẽm, được mấy xâu, đủ ăn dè cả năm. Hắn trả tiền trước ba tháng, đếm từng đồng kẽm vào tay bà chủ trọ, như ngày xưa đếm vào tay ông lang.
Phát trọ ở một quán lớn bên hồ, ba gian, có người hầu. Gã bảo Luân sang ở chung cho vui, tiền nong gã lo hết. Luân lắc đầu. Phát chửi một câu "Tổ sư cái thằng lỗ cả hai đầu", rồi thôi, chiều nào cũng sang gác xép rủ hắn đi ăn bún. Luân trả tiền bún của mình. Phát chửi thêm câu nữa.
Rằm tháng Tám, bãi Giảng Võ đông như trẩy hội.
Mấy nghìn thí sinh. Luân không đếm được. Người đứng kín cả một bãi đất rộng hơn cả cánh đồng chiêm Lò Trấu, tràn ra cả hai bên đường. Con nhà quan áo gấm, con nhà giàu áo đoạn, con nhà nông áo nâu, con nhà lính áo chẽn. Đứa đeo gươm, đứa đeo kiếm, đứa đeo đao, đứa vác thương, đứa tay không. Có đứa đứng tấn giữa đường mà tập, có đứa ngồi dưới gốc cây mà đọc binh thư, có đứa lẩm nhẩm đếm luồng, có đứa khóc vì đánh rơi mất cái giấy báo danh.
Đầu bãi dựng một cái đài cao, lợp mái ngói, treo rèm. Trên đài ngồi mấy ông quan chấm thi, áo bổ tử, mũ cánh chuồn. Bên cạnh đài là một cái lầu nhỏ hơn, rèm buông kín. Người ta thì thào trong ấy có người của phủ Thái Úy ngồi xem.
Dưới chân đài, kê một hàng mười cái án gỗ. Trên mỗi án đặt một cái chậu đồng.
"Vòng đầu, xem tư chất." Phát nói, giọng rõ là thạo. "Nhúng hai tay vào chậu. Nước trong chậu là nước giếng chùa, chậu thì đúc từ đời trước, trên thành chậu khắc năm thứ chữ, Kim Mộc Thủy Hỏa Thổ. Người có Thiên Mệnh nào thì nước đổi sang màu ấy. Mệnh Kim nước trắng đục như nước vo gạo. Mệnh Mộc nước xanh như lá mạ. Mệnh Thủy nước sẫm lại như mực loãng. Mệnh Hỏa nước đỏ au. Mệnh Thổ nước vàng như nước phù sa. Hai mệnh thì hai màu cuộn vào nhau. Ba mệnh thì cả chậu xoáy lên như cái chợ."
"Đổi màu thì đỗ à?"
"Vòng này không đánh đỗ đánh trượt ai. Chỉ ghi vào sổ." Phát nhún vai. "Nhưng ông tưởng người ta không nhìn à? Quan chấm nhìn. Thầy Giảng Võ Viện nhìn. Mấy ông ở các doanh các vệ nhìn. Hai màu thì người ta nhớ tên. Ba màu thì người ta tranh nhau."
Hàng người nhích dần.
Luân đứng đợi, nhìn từng đứa một bước lên.
Một thằng con nhà quan, áo gấm đỏ, nhúng tay vào. Nước chậu đỏ ối lên như tiết canh. Quan chấm gật đầu, ghi sổ. Đám đông ồ lên. Một con bé áo nâu, người gầy nhom, nhúng tay vào. Nước chậu xanh biếc lên, xanh như ruộng mạ tháng Hai, rồi ở đáy chậu lại vàng lên một vệt. Quan chấm ngẩng lên, nhìn con bé lâu hơn một chút. Đám đông ồ to hơn.
Tới lượt Phát. Gã xắn tay áo gấm, nhúng hai tay vào, nhắm mắt, nín thở như người sắp lặn. Nước chậu vàng lên, vàng nhạt, vàng như nước sông mùa cạn.
"Thổ." Quan chấm nói. "Một mệnh."
Phát rút tay ra, mặt hơi xị xuống, rồi quay lại nháy mắt với Luân. "Đất thì cũng tốt. Đất thì mới trồng được lúa, lúa thì mới bán được tiền."
Rồi tới lượt Luân.
Hắn bước lên. Cái áo nâu Phát cho mượn rộng thùng thình, tay áo xắn ba vòng mới lộ ra cổ tay. Chân vẫn đất. Tay trái vẫn cầm cành dẻ. Không ai bảo bỏ.
Hắn nhìn cái chậu đồng. Chậu to bằng cái nong nhỏ, thành chậu xanh gỉ đồng, khắc năm chữ chung quanh. Hắn đọc được chữ Thủy với chữ Hỏa. Nước trong chậu trong veo, trong tới mức nhìn thấy cả những nét hoa văn dưới đáy.
Hắn nhúng hai tay vào.
Nước mát. Mát như nước suối tháng Hai, cái hôm hắn rửa máu thằng Hợi.
Hắn đợi.
Nước vẫn trong.
Hắn đợi thêm. Quan chấm ngẩng lên khỏi cuốn sổ. Mấy đứa đứng sau hắn rướn cổ lên nhìn.
Nước vẫn trong. Trong veo. Trong tới mức những nét hoa văn dưới đáy chậu vẫn rõ từng nét.
Quan chấm cau mày. Ông gõ ngón tay lên thành chậu, cốc cốc, như người gõ vào chum xem chum có rạn không. Ông bảo hắn rút tay ra, lau khô, nhúng lại.
Hắn nhúng lại.
Nước vẫn trong.
Quan chấm nhìn cái chậu. Nhìn hắn. Nhìn cái chậu. Rồi ông chấm bút, viết vào sổ hai chữ, viết chậm, viết rõ, như sợ viết nhanh thì sai.
"Vô Mệnh."
Cả một góc bãi Giảng Võ im đi một nhịp.
Rồi có đứa phì cười.
Rồi đứa khác cười. Rồi cả một đám cười. Tiếng cười lan ra như vết dầu loang trên mặt nước, từ hàng người đứng sau Luân lan ra hàng bên cạnh, lan tới cả mấy cái lều bán nước chè ven bãi.
"Nước trong thế kia thì đem về mà pha chè!"
"Chậu nước đồng đúc từ đời trước, mấy trăm năm nay, lần đầu có người nhúng tay vào mà nước sạch hơn lúc đầu!"
"Trời không cho gì thật à? Thế thì đi thi làm gì, về nhà mà cày ruộng!"
"Người ta bảo đất không nuôi, trời không che. Thằng này thì trời không thèm nhìn."
Trên đài cao, sau lớp rèm mỏng, có một cây quạt giấy phe phẩy. Một giọng thanh thanh vang xuống, đủ to để nửa bãi nghe thấy.
"Ơ kìa. Chẳng phải thằng đào mả hồi tháng Sáu đấy sao?"
Trịnh Quang Khải vén rèm, ngồi ngả người trên ghế, cây quạt che nửa mặt. Gã mặc áo lam, lần này viền chỉ vàng, bên cạnh có hai người hầu đứng quạt.
"Hôm ấy ta còn tưởng ngươi có cái mệnh gì ghê gớm lắm mới được Quốc Nữ ra tay cứu." Khải cười, tiếng cười nhẹ như gió thổi qua rèm. "Hoá ra là Vô Mệnh. Trời không cho, đất không nhận. Quốc Nữ nhân từ quá, cứu cả một cục đá."
Cả bãi cười ồ lên.
Luân rút hai tay khỏi chậu nước. Nước nhỏ tong tong xuống mặt án. Hắn lau tay vào vạt áo.
Hắn không đỏ mặt. Hắn không cúi đầu.
Cả đời hắn, trời chưa bao giờ cho hắn cái gì. Không cha, không mẹ, không họ, không quê. Không sổ hộ, không năm sinh, không ruộng, không nhà. Hôm nay trời cũng không cho nốt. Chỉ khác mọi lần là lần này có cả một ông quan ngồi ghi vào sổ cho chắc, và mấy nghìn người đứng làm chứng.
Hắn quen rồi.
"Bẩm quan." Hắn quay sang quan chấm, cúi đầu. "Vô Mệnh thì còn được thi tiếp không ạ?"
Quan chấm nhìn hắn một lúc, rồi phẩy bút.
"Luật không cấm. Sang án kia báo môn."
Ở án báo môn, một ông thơ lại già đeo kính đồi mồi, râu dê, ngồi sau một chồng sổ cao ngất.
"Tên?"
"Minh Luân."
"Quê?"
"Huyền Vân Sơn."
Ông thơ lại ngẩng lên, nhìn hắn qua cặp kính một thoáng, rồi cúi xuống viết.
"Môn?"
"Gươm."
Ông thơ lại dừng bút. Ông tháo kính ra, lau lau vào vạt áo, đeo lại, nhìn hắn từ đầu tới chân. Cái áo nâu mượn rộng thùng thình. Đôi chân đất. Cái cành dẻ.
"Ngươi nói môn gì?"
"Dạ, gươm."
Mấy đứa đứng xếp hàng sau lưng hắn đã nghe thấy. Có đứa huých vai đứa bên cạnh.
"Thằng Vô Mệnh đòi thi gươm kìa!"
"Gươm à? Gươm là của quan, của con nhà dòng dõi. Nhà mày có ai làm quan chưa, hay chỉ có ông bà ông vải làm quan dưới âm phủ?"
"Nó cầm cành cây mà đòi thi gươm. Cho nó thi môn đốn củi!"
"Không, môn quét lá! Cành ấy quét lá được đấy!"
Tiếng cười lại rộ lên. Ông thơ lại già không cười. Ông gõ đầu bút lên mặt án, cộp cộp.
"Luật của Thái Úy." Ông nói, giọng khô khốc, không nhìn đám đông, không nhìn Luân. "Không cấm ai thi môn gì. Người thì cấm. Luật thì không."
Ông viết vào sổ, nét bút gằn xuống giấy.
"Môn Gươm." Ông thơ lại nói. "Thi thực hành bằng gươm gỗ. Thi lý thuyết bằng giấy bút. Qua cả hai thì đỗ. Trượt một thì trượt. Đi."
Thực hành thì Luân qua.
Người ta phát cho mỗi đứa một thanh gươm gỗ lim, nặng, một lưỡi, dài bằng gươm thật. Đấu từng cặp trong những vòng tròn vạch vôi trắng trên bãi. Ra khỏi vòng là thua. Bị gươm gỗ chạm vào cổ, ngực, bụng là thua. Mỗi đứa đấu ba trận.
Luân cầm thanh gươm gỗ bằng tay trái. Nặng hơn cành dẻ nhiều. Nhưng cầm thì vẫn cầm như thế, như cầm con cá rô, chặt vừa đủ để không tuột.
Trận đầu, hắn gặp một thằng con nhà quan, mười luồng, múa gươm đẹp như đào kép múa tuồng. Mỗi đường gươm ra là một thế có tên, thằng ấy vừa múa vừa đọc tên thế. Luân đứng như người chờ đò. Nó múa ba thế thì Luân nhìn ra vai nó động ở đâu. Thế thứ tư, nó đọc chưa hết tên thì gươm gỗ của Luân đã nằm trên cổ nó.
Trận thứ hai, hắn gặp một thằng con nhà lính, mười một luồng, to như cái cối xay, đánh không hoa mỹ gì, chỉ bổ, bổ, bổ. Luân lùi. Né. Lùi tới mép vòng vôi. Thằng ấy dồn một nhát toàn lực, cả thân chồm theo. Đánh thẳng thế thì chỉ trúng người đứng yên. Luân không đứng yên. Nó ngã sấp ra khỏi vòng tròn theo chính cái sức của nó.
Trận thứ ba, hắn thua. Thua một thằng mười hai luồng, người mạn biển, nhanh như sóc, gươm ra không để lại chỗ hở. Luân cầm cự được lâu hơn ai nghĩ. Tới lúc gươm gỗ của thằng ấy chạm vào ngực hắn thì cả vòng người xem đứng xung quanh đã im từ lúc nào.
Thằng thắng hắn đưa tay kéo hắn đứng dậy.
"Ngươi Vô Mệnh thật à?"
"Ừ."
"Ai dạy ngươi đứng như thế?"
"Một lão ăn mày."
Thằng ấy nhìn hắn một lúc, rồi cười, không phải cười chế giễu. "Lão ăn mày ấy mà đi thi thì chắc đỗ Đình."
Hai thắng một thua. Quan chấm thực hành ghi vào sổ một chữ, gật đầu. Qua.
Lý thuyết thì Luân trượt.
Người ta cho vào một dãy nhà dài, mỗi đứa một cái án, một tờ giấy, một nghiên mực, một cây bút. Đề thi dán trên vách. Mười câu.
Luân đọc đề. Câu thứ nhất, hắn đọc được một nửa. Câu thứ hai, hắn đọc được mấy chữ. Câu thứ ba hắn đọc được hết, mà đọc xong thì không hiểu nó hỏi cái gì.
Khai Mạch tầng thứ ba mở đường kinh nào. Khí đi theo chiều nào. Kể tên mười hai chính kinh theo thứ tự lưu chú.
Binh thư có câu: biết người biết ta. Giải nghĩa và dẫn một trận xưa làm chứng.
Vận khí nghịch hành thì hại ở tạng nào. Chữa thế nào.
Luân ngồi nhìn tờ giấy trắng.
Hắn biết vận khí. Mấy năm nay tối nào hắn cũng vận. Hít vào, vô hình vô định hướng. Thở ra, tướng tan theo gió sương. Hắn biết cái ấm dưới rốn, biết từng luồng hơi chạy vòng quanh nó, biết lúc nào nó chạy nhanh, lúc nào nó chạy chậm, lúc nào cái ngọt dâng lên và phải dừng. Hắn biết bằng cái bụng, bằng hai bàn tay, bằng cái lưng đẫm mồ hôi những đêm ngồi trong điếm.
Nhưng không ai dạy hắn cái tên.
Không ai bảo hắn luồng thứ ba chạy theo đường kinh gì, chạy từ đâu tới đâu, chạy thuận hay chạy nghịch. Lão ăn mày chỉ bảo: thở. Ông lang chỉ chấm nghệ lên người hắn mười hai chấm, mỗi chấm đọc tên một lần, không nhắc lại. Mà hồi ấy hắn mười tuổi, lưng ngồi quay vào ngọn đèn, lạnh run, chỉ lo đếm xem ông chấm bao nhiêu chấm.
Hắn chấm bút. Hắn viết câu thứ nhất bằng những gì hắn biết.
Luồng thứ ba chạy từ chỗ hõm vai xuống dưới lằn khuỷu tay, xuống cổ tay, cách lằn chỉ tay ba đốt. Chạy như nước chảy xuống dốc.
Hắn viết câu thứ hai.
Biết người là nhìn vai người ta. Vai động trước, tay tới sau.
Câu thứ ba hắn không viết được. Câu thứ tư không viết được. Tới câu thứ mười thì tờ giấy của hắn mới kín được một phần ba.
Mấy hôm sau, bảng dán trước cổng bãi Giảng Võ.
Người ta chen nhau đọc. Có đứa reo lên, nhảy cẫng. Có đứa đứng im như tượng. Có đứa ngồi thụp xuống bệ đá mà khóc.
Tên Đỗ Kim Phát nằm gần cuối bảng đỗ, cuối tới mức phải nheo mắt mới thấy. Phát thét lên một tiếng như lợn bị chọc tiết, ôm chầm lấy Luân mà nhảy. Về sau Luân mới biết, cả tháng trước kỳ thi, tối nào Phát cũng bỏ tiền thuê một ông đồ già tới quán trọ đọc sách cho nghe, gã nằm nghe, nghe mãi thành thuộc. Thuộc bằng tai.
Tên Minh Luân không có trên bảng đỗ.
Cái tên ấy nằm ở một tấm bảng khác, nhỏ hơn, dán lệch sang bên. Trên tấm bảng ấy có mấy chục cái tên. Đầu bảng viết mấy hàng chữ. Phát đọc cho hắn nghe.
"Những người sau đây đạt một phần, hỏng một phần. Cho vào lớp bổ túc của Giảng Võ Viện, học một năm, năm sau thi lại."
Phát đọc xong thì im. Gã gãi đầu, định nói câu gì an ủi, rồi thôi.
Tên Minh Luân nằm ở hàng thứ hai mươi bảy. Bên cạnh tên hắn, trong ngoặc, có hai chữ nhỏ. Phát không đọc hai chữ ấy ra. Nhưng Luân nhận ra mặt chữ, vì hắn đã thấy hai chữ ấy trong cuốn sổ của quan chấm hôm rằm.
無命.
Vô Mệnh.
Luân đứng trước tấm bảng rất lâu.
Rồi hắn quay sang Phát.
"Bún hôm nay tôi trả." Hắn nói. "Mừng anh đỗ."
Chậu đồng nước vẫn trong veo,
Trời không cho một, người theo cười mười.
Gươm cầm thắng được hai người,
Giấy thi thì trắng, chưa lời dạy tên.
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.