Nhà Hát Niềm Tin

Chương 1: Cái Chân Bàn Không Biết Nói Dối

Đăng: 21/07/2026 19:54 3,194 từ 41 lượt đọc

"Vật Chất Hay Ý Thức, Cái Nào Mới Là Thực Tại Gốc?"

Hồ sơ số 1. Tang vật: một cơn đau ở chân, bảy tấm ảnh chụp đúng. Nhân chứng: Democritus, Plato. Tình trạng: đang điều tra.

Tôi là một gã thám tử làng đã về hưu non. Tay chân rảnh rỗi nên đâm ra sinh tật. Tật đó kéo tôi ra đúng quán trà đá này mỗi trưa, ngồi đúng góc khuất quen thuộc, trên chiếc ghế nhựa đỏ đã chai lỳ, lõm xuống vừa khít hình mình. Bà chủ quán hay đùa, cái ghế ấy chẳng biết từ bao giờ đã thôi là của bà, dù bà chưa từng nhận lại một đồng nào.

Ngồi không thì đầu sinh chuyện.

Người đời hay ví công cốc là công dã tràng. Con vật đó suốt ngày xe cát biển Đông. Con sóng nào tràn vào cũng cuốn sạch. Vậy mà hôm sau nó lại ra biển, lại xe, cứ như đêm qua chưa từng có chuyện gì xảy ra.

Ba mươi năm cầm hồ sơ, tôi vẫn đinh ninh mình khác con vật đó. Tôi cũng xe cát, nhưng xe để xây lên một thứ đứng được. Sự thật nào rồi cũng có một cái tên để khép lại. Còn mắt tôi, tai tôi, tay tôi thì đủ để mò ra cái tên đó.

Tật của tôi còn khiến tôi hay lôi lại những vụ chẳng ai buồn nhớ tên. Trưa nay tôi lôi lại đúng một vụ khiến tôi lần đầu ngồi tính lại xem mắt tai tay mình đáng tin tới cỡ nào.

Chuyện bắt đầu từ một người đàn bà. Bà ngồi đúng cái ghế đối diện tôi bây giờ, tay cứ vặn vặn quai túi xách. Bà nhờ tôi bám theo chồng bà năm đêm.

Bà tả kỹ. Cao chừng nào, đi kiểu gì, hay mặc cái gì. Rồi bà lấy trong túi xách ra một tấm ảnh, đẩy sang bàn, chụp hai vợ chồng đứng trước một cái cổng chùa.

Tôi hỏi bà đúng mấy câu tôi vẫn hỏi. Ông ấy có anh em ruột không, có ai giống ông ấy không, có ai hay tới nhà không.

“Ổng có ông anh, mà đi nước ngoài mấy chục năm rồi chú. Chưa về lần nào.”

Tôi ghi vào sổ, gạch dưới một cái. Rồi nhận việc.

Nghề này tôi tự đặt cho mình một cái mức, giữ từ ngày vào nghề chưa lệch lần nào: chưa gom đủ hai lần thấy khớp nhau thì chưa trả kết quả cho ai hết. Một lần thấy chỉ là một lần thấy. Hai lần khớp mới là một chuyện.

Đêm thứ nhất chẳng có gì. Ông ta rời sở, ghé tiệm thuốc, về thẳng nhà, đèn phòng khách tắt lúc mười giờ. Tôi đứng ngoài tới quá nửa đêm, ghi được đúng bốn dòng, toàn giờ giấc.

Đêm thứ hai trời đổ mưa lất phất. Tôi đứng nép bên kia đường, mắt dán qua lớp kính quán cà phê đã mờ hơi nước. Một bóng đàn ông khoác chiếc áo gió xanh, dắt tay một người đàn bà lạ, ra tới cửa.

Tôi bấm được ba kiểu trước khi họ khuất sau cánh cửa khách sạn bên kia hàng cây. Kiểu thứ hai bắt được nguyên khuôn mặt, dưới ánh đèn hắt ra từ trong sảnh.

Đêm thứ ba, thứ tư, ông ta về thẳng nhà.

Đêm thứ năm ông ta không về. Xe rẽ sang hướng khác, dừng trước một dãy nhà trọ cuối đường. Trời không mưa, đèn đường sáng hơn hẳn đêm hôm nọ. Tôi bấm thêm bốn kiểu, có kiểu chụp được cả biển số.

Về tới nhà tôi mới rửa ảnh, trải cả bảy tấm ra mặt bàn, rồi đặt tấm ảnh bà đưa xuống cạnh.

Cùng một khuôn mặt. Cùng một chiếc áo gió xanh.

Hai đêm cách nhau ba hôm, hai chỗ cách nhau mấy cây số, chụp bằng hai thứ ánh sáng khác nhau, mà khớp nhau không lệch một nét. Đủ hai lần. Đủ mức tôi tự đặt.

Ba mươi năm nghề chưa từng cho tôi cái cảm giác chắc đến vậy.

Tôi ghi lại đúng những gì mắt vừa thấy. Chỉ bấy nhiêu, không ghi cái tôi nghĩ, không kèm một lời khuyên nào. Người ta trả tiền cho hai con mắt tôi, không trả tiền cho cái đầu tôi.

Ghi xong, tôi gấp sổ lại, kẹp bảy tấm ảnh vào trong. Trong bụng đã coi như xong việc.

Sáng hôm sau tôi giao hồ sơ. Bà cầm tập ảnh, lật từng tấm một, không nói câu nào. Lật tới tấm cuối thì tay bà run.

Ba bữa sau bà gọi lại, giọng cũng run, mà run kiểu khác. Bà chỉ kịp buông đúng một câu trước khi lạc giọng hẳn.

“Chú ơi, người trong mấy tấm đầu không phải chồng tôi. Là ông anh sinh đôi của ổng. Ổng mới về nước tháng trước, tôi không hay.”

Tôi buông điện thoại xuống bàn, ngồi thừ.

Đêm hôm đó ông chồng đi ăn giỗ dưới quê, cách hơn hai trăm cây số. Cả họ ngồi đó nhìn thấy. Có ảnh, có giờ. Ông chỉ cần trưng đúng một đêm.

Trưng một đêm là sập cả tập. Bảy tấm ảnh của tôi, sau cái đêm đó, thành bảy tấm ảnh của một thằng nhìn gà hóa cuốc.

Tôi ngồi rà lại từ đầu, tìm chỗ mình làm ẩu. Không có chỗ nào.

Tôi hỏi bà có ai giống chồng bà không. Bà trả lời thật, đúng cái bà biết. Tôi đi đủ năm đêm, không bỏ đêm nào. Tôi gom hai lần thấy khớp nhau mới trả kết quả, đúng cái mức tôi giữ ba mươi năm. Tôi còn có ảnh, thứ chắc hơn con mắt.

Cái mức đó bảo tôi hai lần khớp thì đó là một chuyện. Bảy tấm ảnh khớp nhau răm rắp. Mà hai đêm đó là hai người đàn ông khác nhau.

Khớp không bao giờ nói được là một. Khớp chỉ nói được là giống. Suốt ba mươi năm tôi vẫn tưởng hai chữ đó là một, vì chưa lần nào có ai bày ra trước mặt tôi hai người giống nhau tới mức đó.

Càng cẩn thận, tôi càng chắc. Càng chắc, càng trật. Mà cẩn thận thì tôi không biết làm gì hơn ngoài cách tôi đã làm.

Vụ lẽ ra đã khép lại đúng đó. Một ca nhận nhầm người, tôi xin lỗi, trả lại một phần tiền công, đôi bên huề cả. Nhưng nửa năm sau, bà khách ấy gọi lại, không phải để đòi thêm đồng nào.

Bà kể, dù đã biết mấy tấm ảnh đầu là ông anh, bà vẫn đinh ninh trong bụng chồng đang giấu bà chuyện gì. Một thứ linh tính chẳng dựa vào đâu cụ thể, cứ đeo bám bà suốt nửa năm trời. Bà mang cả tập ảnh ra đối chất. Chồng bà cuống lên chối, rồi buột miệng khai tuột hết. Bà nhớ như in đúng một câu ông buông ra lúc đó.

“Mấy tấm trước không phải tôi. Còn mấy tấm sau, bà hỏi làm gì nữa.”

Mấy tấm sau. Đêm thứ năm. Dãy nhà trọ cuối đường, đèn sáng, có cả biển số.

Bốn tấm đó nằm trong tay tôi từ đầu, chụp đúng người, đúng chuyện, đúng đêm. Tôi tự tay kẹp chúng vào sổ. Rồi tôi tự tay vứt cả tập, vì ba tấm chụp trước nó chụp nhầm một người.

Cái đúng chết theo cái sai, chỉ vì đứng chung một tờ giấy.

Ba mươi năm nay tôi vẫn quen phân xử theo một lẽ đơn giản: giác quan khai đúng thì tin, khai gian thì bỏ. Ngồi đây tôi mới thấy cái lẽ đó chưa từng chạy được lấy một lần. Cùng một đôi mắt, cùng một cái máy ảnh, cùng một cách làm, một đêm trật một đêm trúng. Và trong cách làm không có gì, không một chi tiết nào, để tôi tách hai đêm đó ra.

Tôi ngồi vặn tới vặn lui một hồi, không ra. Đầu bắt đầu nóng.

Tôi ngoái nhìn bà chủ quán đang lúi húi nhặt rau. Bà nhặt nhanh hơn thường ngày, cọng nào cọng nấy bẻ đánh tách, ném vào rổ nghe bộp một tiếng. Nãy giờ có hai người khách quen ghé, bà không ngước lên chào lấy một câu.

“Bà làm sao vậy?”

“Sáng nay mấy ổng lại xuống đo vỉa hè.” Bà không ngẩng lên. “Đo hoài đo hủy, đo cả năm nay rồi, cũng chưa thấy làm gì. Mà mỗi lần xuống là tôi phải dẹp bàn ghế vô trong, mất trọn buổi sáng.”

“Ừ, khổ.”

Cũng chẳng biết nói gì thêm. Chuyện đó ai giúp bà được. Bà cúi xuống nhặt tiếp, lưng khom hẳn trên rổ rau.

Tôi buột miệng, giọng thủng thẳng: “Người ta nói tu tới một mức thì nhìn núi mà không phải núi, nhìn nước mà không phải nước.”

Bà khựng tay, trợn mắt nhìn tôi: “Ông này! Già rồi còn bày đặt. Định xin thêm miếng mật ong hay gì mà nói cái kiểu đó?” Bà ném cho tôi một cái nguýt, cúi xuống nhặt rau tiếp, không thèm đôi co thêm.

Tôi im bặt, đưa tay gãi gãi sau gáy, mắt lảng sang hướng khác, giả bộ chăm chú nhìn dòng xe cộ ngoài đường. Trong bụng thấy nhẹ ra được một chút, chẳng hiểu vì sao.

Nghề cũ dạy tôi một điều, một lời khai đã bí thì phải đem ra đối chất với chính nó, càng vặn càng dễ lòi chỗ hở. Tay tôi quờ quạng cầm lên thỏi mật ong để sẵn trên cái bàn sắt kê sát bên, đầu óc vẫn còn vướng đúng cái câu hỏi chưa lối thoát.

Tôi cựa người, đổi tư thế ngồi cho đỡ mỏi. Ai dè đá trúng ngay cạnh cái bàn sắt. Một luồng đau nhói xộc từ ống chân lên tận óc. Tôi rụt chân lại, nghiến răng, xuýt xoa thành tiếng.

Bà chủ quán ngoái ra. Bà không ngó cái chân tôi. Bà ngó cái bàn.

“Ông đá cái gì mà mạnh dữ vậy?” Bà bỏ rổ rau xuống, đi lại, cúi người rà tay dọc cạnh bàn sắt. “Cái bàn này tôi xin người ta bỏ đó nghen. Xin về chớ có tốn đồng nào, mà xài chục năm rồi.”

“Chân tôi thì bà không hỏi lấy một câu.”

“Chân ông thì tự nó lành.” Bà gõ móng tay lên mặt bàn, nghe cạch một tiếng. “Cái này móp là móp luôn. Sáng nào mấy ổng xuống đo tôi cũng phải một mình khiêng nó vô. Nặng thấy mồ.”

Tôi ngước lên, thấy bà còn đang cúi soi cái cạnh bàn, buột thêm một câu: “Bà cúi vậy trông trẻ ra.”

Bà chẳng buồn đáp, đứng thẳng dậy, phủi tay đi vô, còn càu nhàu thêm gì đó tôi nghe không rõ.

Tôi ngồi lại, ống chân vẫn tê, trong bụng thấy khoái mà chưa gọi được tên cái khoái đó.

Rồi mới ra. Nãy giờ tôi ngồi đây vặn tới vặn lui xem cái gì mới là thật. Bà thì không. Bà chỉ sợ móp cái bàn. Cái bàn đó chẳng dính gì tới chuyện tôi đang tra hỏi nó, cũng chẳng dính gì tới chuyện bà xót nó. Nó cứ nằm đó. Đá vào là đau, khiêng vô là nặng, móp rồi là móp.

Tay tôi vẫn còn xoa chỗ chân đau, chạm phải thỏi mật ong đang cầm dở từ nãy. Tôi chấm thử một chút lên đầu lưỡi, cốt cho quên bớt cơn đau.

Ngọt thật, nhưng đúng ngay lúc đầu lưỡi vừa chạm, không sớm hơn được một tích tắc. Trước đó thỏi mật vẫn chỉ là một khối sánh vàng nằm im, chẳng ngọt cũng chẳng nhạt.

Cơn đau chân lúc nãy cũng chạy đúng một đường như vậy, từ ống chân lên óc. Nếu vị ngọt không đủ tư cách làm nhân chứng cho cái vật tự nó nó vậy, thì cơn đau, cũng chỉ là một giác quan khác, có hơn gì nó.

Tôi ngồi thẫn thờ, tay vô thức gõ gõ lên mặt bàn gỗ trước mặt, cốt tìm cái gì chắc chắn hơn để bám víu. Cái bàn gỗ này chân khập khiễng, mặt đã lên nước bóng loáng, chắc chắn phải là một thứ có thật, không thể ngọt nhạt tùy hứng như thỏi mật ong kia được.

Tôi nghiêng đầu, đổi góc ngồi cho đỡ chói nắng, rồi cúi hẳn xuống ngó gầm bàn. Cái bàn dưới mắt tôi đổi màu theo mỗi lần đổi góc. Chỗ vừa nãy vàng sậm giờ ngả sang nâu nhạt, đường vân gỗ vừa nãy rõ mồn một giờ mờ hẳn đi vì bóng nắng đổ chéo. Tôi đổi lại tư thế cũ, màu và vân lại về như trước.

Bà chủ quán thấy tôi cứ cúi lên cúi xuống dòm gầm bàn, tưởng miếng bìa các tông độn chân bàn lại lung lay, hỏi vọng qua: “Lại kê lại hả? Để tôi độn thêm miếng khác cho.”

“Không, đang tra xem cái bàn này có khai gian với tôi không thôi.”

Vậy ra cái tôi thấy đâu phải là cái bàn. Chỉ là cái nó chịu khai ra với tôi, từ đúng chỗ tôi ngồi, đúng cữ nắng này. Cái bàn gỗ thật, cái đang đỡ hai cùi tay tôi, chắc vẫn cứ y nguyên không đổi. Nếu vậy, ngay cả giác quan tôi vẫn coi là cứng nhất, cái đang chạm tay, đang sờ thấy sát sạt trước mặt, rốt cuộc cũng chỉ là thêm một lời khai nữa.

Tôi miết bàn tay dọc mặt gỗ, chỗ đã lên nước bóng vì bao nhiêu năm khuỷu tay thiên hạ tì lên. Cái bàn này do một tay thợ mộc nào đó đóng ra. Trước khi hạ nhát cưa đầu tiên, trong đầu ông thợ hẳn đã có sẵn một cái bàn rồi, cái bàn chưa dính lấy một dằm gỗ, một cây đinh nào. Cái tôi đang miết tay đây, đem so với cái nằm trong đầu ông ta, chắc cũng chỉ tới hàng nhái là cùng.

Nghề cũ để lại cho tôi cái tật gì cũng phải đặt tên mới yên, không tên thì không lập hồ sơ được. Cái bàn nằm trong đầu ông thợ, tôi gọi là Bàn Gốc. Cái mà mọi cái bàn trên đời đều nhắm theo, mà không tay thợ nào đóng ra được cho trọn. Tôi chưa từng với tới nó, chỉ toàn với tới mấy bản chép lại, chép rồi chép nữa, hết lớp này chồng lớp khác, không biết đâu là đáy.

Tôi cúi xuống, lấy mũi dép khều thử miếng bìa các tông bà chủ quán độn dưới chân bàn. Nó vẫn nằm đó, ép dẹp lép, gánh nguyên cái bàn cho khỏi cập kênh.

Tay tôi quờ sang lấy ly trà đá, xiết chặt, đá lạnh kêu lanh canh trong ly. Đúng lúc đó bảy tấm ảnh năm nào hiện về, trải trên mặt bàn, ngay ngắn.

Hồi đó tôi tưởng mình khôn hơn cái bàn gỗ này. Mắt nhìn một góc ra một màu, nên tôi không dùng mắt không. Tôi dùng máy ảnh. Máy không đổi màu theo chỗ đứng, không nhớ sai, không mệt.

Máy cũng chụp trúng thật. Bảy tấm không sai một nét nào.

Chỉ có điều máy chỉ chụp được cái mặt. Còn cái câu mặt này là chồng bà ấy thì không nằm trong tấm ảnh nào hết. Nó mọc ở quãng giữa tấm ảnh và cái đầu tôi, đúng cái quãng tôi chưa từng soi tới, y như tôi chưa từng soi cái quãng giữa thỏi mật và đầu lưỡi.

Đổi một cái cửa dở lấy một cái cửa tốt hơn, mà vẫn trật. Vì chỗ hỏng chưa bao giờ nằm ở cái cửa.

Không chỉ đồ vật mới vậy. Cả cách tôi đọc một con người, một tình huống, một khuôn mặt trong tấm ảnh chụp rõ mồn một, hóa ra cũng kê bằng đúng thứ bìa các tông đó cả.

Tôi thử lùi lại, đứng ngoài hết thảy để phân xử cho rành mạch, xem rốt cuộc đâu là thật, đâu chỉ là cách nhìn. Nhưng đứng ngoài bằng gì. Bằng chính cái đầu đang ngồi đây. Mà cái đầu đó, muốn nghĩ được, cũng phải nhờ đúng mắt, đúng tai, đúng cái chuỗi cảm giác tôi vừa nghi ngờ suốt từ nãy tới giờ, mới có cái để mà nghĩ.

Tôi đang nghi ngờ giác quan bằng chính công cụ ráp nên từ giác quan. Khác nào một nhân chứng tự đứng ra bảo lãnh cho lời khai của chính mình, rồi đòi tôi tin lời bảo lãnh đó. Ba mươi năm cầm hồ sơ, gặp kiểu đó là tôi gạt phăng ngay, không cần nghe hết.

Giờ chính tôi là gã nhân chứng đó. Và tôi không có ai khác để mà gọi ra đối chất.

Tay tôi tự thò vào túi áo trong, chạm phải một góc bìa cứng quen thuộc. Tôi để yên đó một lúc, rồi rút ra, lau lên ống quần.

Đúng lúc đầu óc còn xoay mòng mòng, tôi lơ đễnh ngả người ra sau, quên bẵng cái ghế nhựa không có tựa lưng dưới mình. Người tôi ngả quá đà, hụt trọng tâm, đổ huỵch xuống đất.

Tiếng huỵch khô khốc khiến vài người trong quán ngoái nhìn. Bà chủ quán từ trong quầy ngó ra: “Đó! Cái ghế đó tôi cho ông ngồi ké mấy năm nay, giờ nó hất ông xuống đất kìa!”

Tôi vừa lồm cồm bò dậy vừa phủi quần, đáp giọng tỉnh khô: “Vật chứng thông đồng với hiện trường rồi, khỏi cần nhân chứng nào khai thêm nữa.”

Bà phá lên cười một trận rồi quay lại với rổ rau muống đang nhặt dở. Mặt tôi nóng bừng lên tận cổ.

Vừa xong một hồi vật lộn với câu hỏi lớn nhất đời người, giờ lại ngã sõng soài chỉ vì quên mất một cái ghế không tựa lưng.

Ngồi lại xuống ghế, tôi nhìn xuống đúng cái cạnh bàn sắt vừa hại tôi một cú đau lúc nãy. Tôi đau nên cái bàn tồn tại, hay nó tồn tại nên làm tôi đau. Ba mươi năm nay tôi vẫn đinh ninh chiều nhân quả chỉ chạy một đường, vật có trước, tôi lãnh hậu quả sau. Giờ ngồi giữa quán trà đá, tôi không dám chắc mình từng đứng đúng phía nào của cái mũi tên đó.

Tôi ngồi thừ một lúc, rồi tự nhủ thôi thì để đó, nghĩ mãi trưa nay cũng chẳng ra thêm được gì. Tay tôi lật sang một tập hồ sơ khác nằm sẵn trong chồng giấy trước mặt, một vụ tôi vẫn để dành xử sau, coi như một trò khác cho gã về hưu giết thời gian.

Vừa toan mở tập hồ sơ đó ra, một tiếng rao hàng đều đều, có nhịp, vọng tới ngay trước cửa quán.

0