Quyển 1: Thức Tỉnh: Đoản Kiếm Tỉnh Mộng
Chương 12: Thanh Minh
Lạc Hồng Kiếm Ấn
Mục lục
12 chươngCuộn, vuốt hoặc dùng hai nút để xem thêm Đã tải 12/12 chương
Khánh lủi về góc chuồng trâu khi tiếng mõ canh ba từ gác chuông chùa Hư Vân đã chìm hẳn vào đêm.
Mùi rơm mục quyện với hơi phân ải xộc lên nồng ngái. Mấy gã tá điền nằm ngổn ngang trên chiếc sạp nứa ọp ẹp; kẻ ngáy rền rĩ, kẻ vục mặt vào đống rạ thở phì phò từng hớp đục ngầu. Họ nghèo kiết xác, quanh năm lội bùn thụt, nhưng lưng cứ dính manh chiếu rách là ngủ say như chết. Riêng Khánh nằm co ro sát chân tường, mắt chong chong nhìn qua kẽ giạ thủng trên mái rạ, trằn trọc suốt nửa đêm.
Cảnh tượng ngoài Bến Vầu ban chiều vẫn rát rạt nơi đáy mắt.
Cậu từng thấy xác trôi trương phềnh dạt bãi ngô, thấy kẻ trộm chó bị trói rọ tre dìm sông. Nhưng chưa bao giờ cậu thấy người ta đoạt mạng nhau gọn ghẽ đến thế. Mấy chục người ngã gục chỉ vì mấy sọt quặng thô giấu dưới lườn thuyền. Mạng kẻ dưới đáy thời loạn rẻ rúng đến mức nếu chiều nay sẩy chân nửa nhịp, giờ này xác cậu đã dạt ra cửa sông Nhị, mặc cho cá rỉa.
Khánh đưa bàn tay thô ráp sờ lên ngực áo. Mảnh vải gai bọc viên ngọc phả ra hơi lạnh cứng ngắt bên mạn sườn. Đốt ngón tay cậu khẽ siết lại. Trong bóng tối, đầu óc cậu lại lởn vởn hình ảnh thanh đoản kiếm đồng gãy rỉ xanh mò được dưới đáy sông Đáy năm nào.
Ngày nhận kiếm từ tay cụ Cao Lỗ, nghe dặn dò chuyện xã tắc, cậu chỉ là thằng nhóc bến bãi ăn chưa no lo chưa tới. Những gian nan mà cậu tính đến lúc dứt áo ra đi cùng lắm là mấy trận lũ quét đỏ ngầu, vài cữ rét buốt thịt xương hay dăm ngày nhịn đói thắt ruột. Cậu không ngờ đường này lại đặc mùi máu tanh. Mới dạt về kinh kỳ chưa tròn tháng, nanh vuốt của đám lục lâm và toan tính của quan quân đã bủa vây tứ phía. Một thoáng ngột ngạt rịn ra sau gáy: một thằng chân đất quen mò hến như cậu rốt cuộc liệu có qua nổi mùa loạn này, hay rồi cũng vùi xác nơi xó chợ, không kiếm nổi manh chiếu rách đậy mặt?
Tiếng trở mình sột soạt của bác tá điền già kéo tuột cậu về lại mái gianh liêu xiêu nơi bãi ngoài.
Lão Phúc Anh cả đời câm lặng, lưng còng rạp xuống đất. Những chiều đông buốt rát, cha thường ngồi bó gối bên bậu cửa, mắt đăm đăm dán vào khoảng nước tối om ngoài bãi ngô, chờ đợi một điều chẳng bao giờ tới. Giờ nằm giữa chuồng trâu hôi hám, cậu mới thấm cái bóng lưng ấy nặng thế nào. Cả những nét chữ Hán xiêu vẹo cha vạch trên nền đất dạy cậu thuở trước, hóa ra chẳng phải để mong cậu đi thi kiếm lấy mảnh áo the hoa đón sắc phong triều đình.
Nghĩ đến đó, cậu lại nhớ Hoan. Thằng bạn dạt dẹo trôi sông lạc chợ xứ Hoan Châu giờ ở đâu, hay đã nằm dưới mũi giáo của lính Đô Thống phủ? Cậu nghiến chặt quai hàm: chỉ cần cày ải trả xong món nợ bốn quan sáu cho chùa Hư Vân, dẫu có phải lật tung từng xóm trọ Thăng Long, cậu cũng phải tìm ra nó.
Nghĩ lan man một hồi, cái cảm giác nhơm nhớp bết dính ở đũng quần lại giật giật, lôi phăng cậu về cái rãnh bùn mé bãi sậy ban chiều.
Lúc ấy cuống quá, cậu ngồi thụp xuống bùn, vơ vội nắm lá khô che hạ bộ, mếu máo xin người ta đừng chém vì "dưới này bẩn lắm". Đến lúc co cẳng chạy, hai tay vẫn phải túm chặt cạp quần tụt ngang háng, vừa cắm đầu lủi vừa ngoái cổ phân trần chuyện chưa kịp xốc quần lên.
Nhớ lại cảnh nhếch nhác phơi trần trước mắt con gái người ta, hai tai Khánh nóng bừng. Cậu thẹn đến mức muốn vùi mặt xuống nền đất nện, bực bội quơ tay áo xua mạnh vào khoảng tối mù mịt như muốn gạt phắt cái ký ức bẽ bàng ấy đi.
"Đúng là của nợ..." Cậu nghiến răng lẩm bẩm, rúc sâu vào đống rạ.
Nằm mãi không yên, Khánh lồm cồm ngồi dậy. Cậu nín thở, lách qua mấy cặp chân khẳng khiu của đám tá điền rồi trườn qua khe liếp rách ra ngoài.
Sương lạnh giăng mịt mùng sân chùa. Hậu viện chìm trong tĩnh mịch, chỉ còn đống trấu ủ bên chái bếp le lói vài đốm than đỏ quạnh. Cậu vòng qua bãi củi lim xẻ dở, bước tới mỏm đá khuất sau rặng trúc đẫm hơi nước, nhặt lấy một cành lim vót dở dài hơn sải tay làm kiếm.
Mấy đường đầu vung ra trơ cứng. Cổ tay cứng đờ, cành gỗ chém vào gió nặng trịch. Càng cố nhớ khẩu quyết của Lạc Hồng Kiếm pháp, hơi thở cậu càng nghẽn lại, ngón tay run lên vì gồng sức thô.
Khánh khựng lại, hít một hơi lạnh buốt nơi cuống họng. Cậu buông lỏng vai, mười ngón chân trần bấm chặt xuống nền đất dẻo quánh.
Từ lòng bàn chân áp vào bùn lạnh, một luồng khí mát rượi chạy ngược lên bắp chân rồi xốc dọc sống lưng. Khúc củi lim vung lên đanh gọn hơn, phát ra những tiếng roạt... roạt kín kẽ. Vỏ lim xù xì miết vào mấy vết xước ban chiều rát buốt, nhưng cậu không dừng. Mỗi nhịp vụt xuống kéo theo từng đợt hơi thở nặng nhọc phả vào sương đêm.
Cách đó một quãng, khuất sau bóng trúc tối om, Lão Vô Ngôn đã đứng đó. Bàn tay cụt một ngón kẹp hờ thân tẩu thuốc ngắn cũn, đôi mắt già nua nhìn chăm chắm vào từng nhịp chuyển bộ của thằng bé. Lão đứng im lìm như bóng cây khô, không cất một tiếng, chỉ lặng lẽ dõi theo từng đường gỗ xé gió rồi thong thả quay gót lẩn về mạn nhà kho.
Khánh cắm phập mũi củi xuống đất, đứng thở dốc từng ngụm khí trắng đục trong đêm rét, không hề hay biết vừa có bóng người lướt qua sau lưng.
****
Trong chính phòng phủ Thiên Sứ, ngọn bấc dầu lạc trên đĩa sành nổ lép bép, khói mỏng phả ra khen khét.
Nguyễn Khắc Trực ngồi xếp bằng trên sập gụ, khoác áo dạ xám chì, vóc người vạm vỡ dẫu râu tóc đã lốm đốm hoa râm. Trước mặt lão, Trương Thiết đứng chắp tay, giáp da còn bết bùn khô:
"Bến Vầu đêm qua, mạt tướng hạ mười hai tên cướp sông, bắt sống sáu tên. Nhưng quá nửa số quặng đồng đỏ chuyển từ lộ Đà Giang về đã bị bốc dỡ trước khi ta ập tới. Vết xe bò lót rơm ướt kéo ngược theo lạch sông phụ, hướng về mạn chùa Hư Vân rồi mất dấu."
Lão quản gia tóc bạc đứng bên cột cái bước lên, chìa xấp sổ quân nhu bọc vải chàm:
"Bẩm Tướng quân, các lò rèn ngoài thành đang cạn kiệt đồng thỏi và sắt tinh. Bè mảng chở quặng sắt từ châu Phủ Lương xuôi sông Cầu về chậm cả tuần nay; đồng đỏ trong kho chỉ còn non ba trăm cân, chưa đủ đúc đầu tên chứ đừng nói rèn đại đao. Quặng Đà Giang là đồng thô phẩm chất cao nhất, nếu mớ hàng ngoài bến lọt vào tay kẻ khác, việc chỉnh đốn quân vụ mùa hè tới e khó xoay xở."
Khắc Trực giơ bàn tay đầy vết chai sần lên, gõ nhẹ xuống mặt sập:
"Động vào mấy phường buôn lớn ở kinh kỳ là đụng tới người trong triều. Bè quặng Phủ Lương về chậm, hay quặng đồng bị chặn ở ngã ba Hạc, chưa chắc đã là do cướp sông. Chưa có chỉ dụ, không được làm rùm beng. Hai người lui ra."
Trương Thiết cùng lão quản gia khẽ cúi đầu lùi bước, then gỗ nặng trịch cài lại sau lưng.
Từ sau tấm bình phong, Mai Trân bước ra. Nàng mặc bộ áo chẽn gọn ghẽ, nét mặt lạnh tanh:
"Bọn cướp Vọng Giang Lâu dẫu liều mạng cũng không có thợ luyện kim để nuốt trôi đồng đỏ thô của lộ Đà Giang. Thuyền chở quặng nặng nề, quan quân phong tỏa các nhánh sông là chúng hết đường giấu. Muốn tẩu tán nhanh, chỉ có cách nấu chảy thành thoi vụn ngay trong đêm. Quanh kinh thành, chỉ chùa Hư Vân là có lạch ngầm ăn thông ra mé bến, lại sẵn lò than non của Dược Đường và xưởng đúc chuông. Nhà chùa không vô can."
Khắc Trực nhìn ngọn đèn leo lét, giọng trầm hẳn xuống:
"Cửa thiền mà giấu khói lò rèn binh khí. Đúng là điều ta lo."
Lão liếc nhìn bước chân nàng:
"Cổ chân thế nào rồi?"
"Trẹo nhẹ, không việc gì." Nàng đáp cộc lốc.
"Về chái tây nghỉ đi. Tiết Thanh Minh mấy ngày tới sẽ còn lắm chuyện."
Mai Trân gật đầu rồi quay người bước ra ngoài, tiếng guốc nện xuống sàn gỗ dứt khoát.
Cánh cửa khép lại. Khắc Trực bưng chén trà nguội ngắt đã ngả màu trên bàn, nuốt ực một ngụm đắng nghét. Ngón tay lão miết lên mảnh đao gãy Mai Trân nhặt về từ bến sông. Thằng con ruột của lão giờ này chắc vẫn vùi đầu bên sới bạc phường Yên Thái hay nằm bẹp trong buồng ả đào, bàn tay chỉ quen cầm quạt lụa gieo xúc xắc, thanh đoản đao ba cân nhấc cũng không nổi. Khắc Trực nhổ toẹt bã trà xuống kẽ ván, chép miệng một tiếng khô khốc rồi nhìn ra màn mưa mỏng ngoài hiên.
****
Mưa phùn giăng một lớp mờ đục lên tường rêu Quốc Tử Giám.
Trời nhá nhem, Lê Văn Hoan ngồi co ro trên manh chiếu rách mép trải tạm dưới hiên một hiệu giấy đã cài then. Hắn kéo vạt chiếu ướt trùm lên đầu, một tay ôm chiếc quạt giấy đã gãy nan, người run bần bật vì lạnh.
Sau trận chém giết ngoài bãi sông hôm nọ, Hoan hoảng hồn, không dám bén mảng lại mé nước. Hắn dạt về khu phố này, trải chiếu hành nghề viết sớ, chép thuê văn tự kiếm miếng ăn sống qua ngày.
Mưa rả rích cả buổi, cả ngày chỉ kiếm được một lá sớ cầu an cho bà cụ bán rau, đổi ba đồng kẽm méo mó với củ khoai sượng ăn từ trưa trật. Bụng Hoan réo lên từng chặp cồn cào.
Trước mặt hắn là chiếc nghiên đá mẻ góc — thứ duy nhất hắn vơ vội khi lính nha môn ập vào niêm phong căn nhà của cha ngày trước. Một vụ án oan mập mờ chốn công đường đã chôn vùi người cha huyện thừa trong ngục tối, tước sạch cơ nghiệp, đẩy hắn thành kẻ không chốn nương thân nơi đất Thăng Long.
Mấy gã sĩ tử mặc áo gấm, xỏ hia da bóng lộn rảo bước qua mép chiếu, làm bùn bắn lên vạt áo thô của Hoan. Bọn họ chẳng thèm liếc mắt nhìn xuống kẻ mạt rệp dưới hiên, vừa đi vừa rôm rả bàn chuyện thi cử mùa tới.
Hoan đưa bàn tay khẳng khiu lên miệng, phà từng hơi nóng cố làm tan đám mực tàu đã đông cứng trên mặt đá. Nhìn vệt mực đen bám chặt kẽ móng tay cáu bẩn, hắn thở dài sườn sượt:
"Khánh huynh... chẳng hay giờ sống chết phương nào?"
Nghĩ tới thằng nhóc bến bãi liều lĩnh hôm ấy, Hoan lắc đầu. Hắn nhét thanh mực vào bọc, cắp manh chiếu ướt vào nách rồi xỏ đôi guốc gỗ nứt toác, lủi thủi bước vào màn mưa phùn, tìm đường về căn chái nứa dột nát mé chân thành.
****
Lý Trường Phong ngồi chồm hổm dưới gốc cây bàng cụt đầu ngõ phường Cửa Nam, tay cầm nửa củ đậu héo gặm sột soạt, hai mắt dán chặt vào cánh cổng lim then cài đóng kín mít của dinh cơ nhà họ Đỗ đối diện.
Hạ sơn non nửa tuần trăng, cái chí khí "đoạt lấy khí số càn khôn" hôm rời Bạch Vân Quán rốt cuộc teo tóp lại vừa vặn bằng một cái bụng đói cồn cào.
Ngày trước theo sư phụ ngao du, hắn đinh ninh thiên hạ này trọng vọng kẻ Đạo môn lắm. Đi tới quán nào cũng có tiểu đồng dâng trà, các vị đạo trưởng râu dài tay áo thùng thình ra tận cổng tam quan cúi rạp mình thi lễ, mâm cơm dọn ra tuy chay tịnh nhưng toàn củ mài om nấm hương với chè sen ngọt lịm. Đến lượt hắn một thân một mình bước chân xuống núi, mọi việc bỗng đảo lộn sạch trơn.
Hôm chia tay, lão đan sư Trường Xuân đứng bên bờ đá gió lộng, mặt lạnh như tiền buông một câu ráo hoảnh: *"Người tu nội đan cốt ở tâm thanh tịnh, lụy vào vật ngoại thân ắt làm đục chân khí."* Đoạn, lão tiện tay giúi cho hắn một túi vải gai con con. Xuống tới chân núi mở ra, bên trong vỏn vẹn hai chục đồng kẽm rỉ xanh dính bết vào nhau và một phong bánh khảo cứng quắc như đá tảng.
Hai chục đồng kẽm ở cái đất Thăng Long này, vừa lọt qua cổng thành húp vội hai bát cháo kê với mấy cút nước vối là cạn đáy. Hắn tìm tới mấy đạo quán lớn gõ cửa tá túc, gã đạo đồng trông cổng liếc thấy bộ áo chẽn chàm bạc phếch liền bĩu môi sập then gỗ đánh *rầm*, buông thõng một câu quán chỉ tiếp khách thập phương có đồ lễ hậu dâng cúng.
Sáng nay nghe ngóng được nhà buôn lụa họ Đỗ đang tìm thầy trừ tà cho đứa con trai mê sảng, Trường Phong chắc mẩm phen này kiếm được bữa no. Bước vào buồng trong, hắn đặt hai ngón tay lên cổ tay thằng bé, khẽ ấn vào thốn khẩu.
Mạch tượng hơi phù hoạt, lòng bàn tay nóng rực nhưng mu bàn chân lại buốt như ngâm nước đá. Trường Phong ghé mắt soi lớp rêu lưỡi trắng bợt, lại ngửi thấy mùi men chua nồng từ hơi thở thằng nhỏ, trong bụng đã sáng như gương. Dược thư ở Bạch Vân Quán dạy cứu người trúng độc ngạt nước còn chẳng bõ, dăm ba cái chứng vặt vẹo này hắn liếc mắt cũng điểm trúng bệnh.
Hắn buông tay áo, đứng dậy phủi vạt áo chàm, rành rọt bảo lão trùm Đỗ:
"Tiểu công tử đêm qua ăn xôi nếp nguội nhiều mỡ gà, lại chạy ra bờ mương hứng gió bấc nên hàn khí tích tụ ở vị tràng. Tỳ vị đình trệ, trọc khí bốc ngược lên đầu mới sinh ra mê sảng, ú ớ giật mình. Chẳng có ma tà quỷ quyệt nào hết. Gia chủ chỉ cần giã một củ gừng già, hái nắm lá tía tô sao vàng sắc lấy một bát nước ấm cho uống, kiêng thịt thà mỡ màng, đắp chăn kín gió ngủ đẫy ba hôm là tự khắc dứt cơn."
Lão trùm họ Đỗ đang chắp tay nín thở chờ nghe tên con ác quỷ nào ám con mình, nghe xong thì mặt xẹp xuống, đôi mày rậm nhíu tít lại:
"Chỉ... có thế thôi ư? Đêm qua nó vật vã trợn trừng mắt đòi cắn người, thầy không định lập đàn, không thỉnh sắc lệnh thiên binh về phạt quỷ sao?"
Trường Phong chớp mắt, đáp bằng giọng ráo hoảnh:
"Bệnh do ăn uống nhiễm lạnh thì trục hàn là khỏi. Đang yên đang lành lập đàn tế quỷ làm gì cho tốn bạc, khói hương nghi ngút lại làm thằng bé thêm ngột ngạt."
Lão trùm lụa nghe xong thì bĩu môi, ánh mắt chuyển từ sốt ruột sang khinh khỉnh ra mặt. Một dinh cơ bề thế nhường này, con trai độc đinh lâm bệnh nặng, mà thằng nhãi đạo sĩ rách rưới này dám bảo uống một bát nước gừng là xong việc.
Lão còn chưa kịp mở miệng đuổi, một tiếng *chát... boong...* chói óc đã nện thẳng vào màng nhĩ, chém ngang bầu không khí trong phòng.
Hai gã đạo sĩ phường bên sấn sổ xộc qua bậu cửa. Gã đi đầu râu quặp khoác áo bào gắn gương bát quái lòe loẹt, vừa liếc thấy thằng bé nằm co quắp trên sập liền trợn trừng mắt ếch, dộng mạnh thanh kiếm gỗ đào xuống nền gạch kêu *cắc* một tiếng:
"Oan nghiệt! Một con thủy quỷ chết trôi ba trăm năm dưới sông Nhị đang bóp cổ tiểu công tử! Nếu chậm nửa canh giờ nữa không dùng lôi hỏa trừ tà, tính mạng đứa trẻ khó lòng giữ nổi!"
Lão trùm Đỗ nghe đúng chữ "quỷ", mặt cắt không còn giọt máu, lập tức sụp xuống lạy lấy lạy để.
Gã râu quặp đắc ý ngoạm một ngụm rượu đại hoàng rồi phun cái *phù* qua ngọn nến sáp. Lửa bùng lên một quầng đỏ rực, khói khét lẹt mù mịt gian tiền đường. Gã vừa nhảy loi choi vừa huơ kiếm chém loạn xạ vào khoảng không, mồm rú rít những câu bùa chú vô nghĩa, trong khi tên đi sau nện chiếc la đồng inh ỏi phụ họa.
Chưa đầy nửa tuần nhang sau, Trường Phong đã bị hai tên gia nhân lực lưỡng vác chổi cành tre quét xua ra khỏi ngạch cửa như quét một đống rác rưởi. Tiếng cổng lim sập lại sau lưng hắn nặng trịch.
Phía trong sân vẳng ra mùi gà thiến luộc lá chanh và xôi gấc béo ngậy bốc lên ngào ngạt, át cả mùi khói diêm sinh, chen lẫn tiếng la đồng *chát... chát...* tưng bừng đắc thắng.
Trường Phong nuốt nước bọt đánh cái *ực*. Hắn cúi đầu nhìn nửa củ đậu héo dính vệt bùn khô trên tay, rồi ngước mắt nhìn lên nền trời mù sương.
Hít một hơi sâu nén cơn giận xuống đan điền, hắn lầm bầm:
"Lão Trường Xuân... bảo là mài giũa đạo tâm... Giỏi thì cởi áo đạo bào xuống đây”. Tất nhiên, hắn biết với đạo pháp của sư phụ, vốn đã dứt bỏ phàm thực.
****
Đất ven sông Nhị vào tiết Thanh Minh ẩm sì sì.
Người bến bãi gọi tiết này là lúc mở cửa mả. Cỏ may, cỏ gấu sau mấy tháng đông cằn cỗi bỗng gặp mưa xuân mà tốt ngập mắt cá chân. Dọc theo triền đê, người sống dắt díu nhau đi tìm mồ mả người chết. Tiếng liềm cùn phạt cỏ soàn soạt; người ta xới từng tảng đất đắp lại nấm mồ sụp lở, cắm nén hương bổi leo lét giữa ban ngày. Đạo lý của kẻ nghèo bến sông mộc mạc và có phần thực dụng: chẳng mấy ai mong tổ tiên hiển linh phù hộ trúng quan phát tài, người ta chỉ mong người nằm dưới ba thước đất đỡ rét, còn kẻ trên dương thế năm nay cấy lúa đỡ lép hạt, con trẻ qua được mùa dịch tả.
Thế nhưng náo nhiệt nhất lúc này tại vùng ven Kinh thành lại là chùa Hư Vân.
Cửa thiền mở toang, tiếng chuông mõ hòa vào tiếng người ồn ã. Mùi trầm hương từ lái buôn phương Nam thơm nức, quyện với mùi dầu lạc khét nhẹ và hương nếp chín từ các mâm xôi oản xếp cao ngất. Nhà giàu kinh kỳ bước xuống từ xe ngựa, áo the quần lụa xì xụp quỳ lạy. Tiền kẽm, bạc vụn ném vào hòm công đức kêu leng keng — người ta chen nhau bỏ tiền mua sự thanh thản cho những món lợi kiếm được nơi phố xá.
Ngay trước thềm Chánh điện, tấm bảng gỗ sơn then chữ thếp vàng đã dựng từ sớm: Đại pháp hội Thanh Minh kỳ siêu độ vong. Nghe đâu đúng giờ Ngọ ngày mai, đích thân Viện chủ sẽ đăng đàn khai thị, làm lễ sái tịnh. Quan sai, phú hào nườm nượp đổ về giành chỗ.
Khánh chống cán chổi tre đực, đứng nép dưới mái hiên chái tây nhìn tàn vàng mã bay lượn lờ rồi rớt xuống bậc đá ướt.
Cậu bất giác nhớ đến bà lão bán mớ rau muống héo nép bên cổng chùa lúc sáng sớm. Chiếc áo tơi tả tơi ướt sũng, lưng còng rạp, bà chỉ dám đứng ngoài ngạch cửa Tam Quan vái vọng vào trong khoảng tối Chánh điện. Hai bàn tay nứt nẻ cáu bẩn chắp trước ngực, môi mấp máy van lơn rồi vội vã quay đi, chẳng dám bước chân qua ngạch cửa vì sợ bùn đất dính dưới gót chân mình làm vấy bẩn chốn tôn nghiêm.
Người giàu ném bạc vụn để mua lấy sự thanh thản và chỗ ngồi danh giá gần tòa sen. Còn kẻ nghèo khổ dường như đến việc cầu xin một chút an lòng cũng thấy mình không xứng. Nhưng pho tượng mạ vàng ngự trên kia ngàn năm mắt vẫn rủ xuống phẳng lặng, đói rét trần gian tượng chẳng gánh thay ai một bữa. Qua bao tao loạn, cái giữ mạng cho đám cùng đinh xưa nay vẫn chỉ là đôi bàn chân trần cắm chặt xuống bùn mà chịu trận.
Tiếng xôn xao ngoài cổng Tam Quan cắt đứt dòng suy nghĩ của Khánh.
Dưới nhà bia đá, đám sĩ tử xúm xít vây quanh một người phụ nữ. Nàng mặc áo tứ thân màu xanh khói, vạt buông lơi, dải yếm lấp ló trắng ngần.
"Cô Thiên Hương của Hồng Y Các..." Đám thư sinh xì xào to nhỏ.
“Hoa khôi Kinh thành không ngờ cũng tới”.
“Gặp được nàng ở đây quả là may mắn”.
"Tuyệt sắc tài nữ gì chứ, cũng chỉ là gái chốn tửu điếm làng chơi." Một cô gái bán hương đứng gần đó bĩu môi, nói khẽ với người bên cạnh.
Người kia che miệng cười mỉa:
"Thì người ta có cái nhan sắc để mà lên giá. Đám mọt sách kia có mắt cũng như mù."
Một gã thư sinh áo gấm nghe loáng thoáng, quay lại cau mày:
"Các cô ăn nói cẩn thận. Người ta là hoa khôi Hồng Y Các, thơ hay chữ đẹp, chẳng phải hạng tầm thường."
Cô gái bán hương nhếch mép:
"Thế mà cũng gọi là hay? Chỉ được mấy chữ mực tàu bay bướm, dỗ dăm ba kẻ dư tiền rửng mỡ. Chờ xem đến trước tòa sen, liệu có còn thảnh thơi mà vén tay áo làm thơ không."
Giấy bản trải sẵn trên mặt đá, nàng chấm nhẹ bút lông vào đĩa mực, vén cổ tay áo thảo một bài thơ điếu vong ngắn. Nét chữ sắc sảo. Đám công tử vây quanh thi nhau tán tụng, có kẻ bạo miệng buông lời mời nàng ghé tư gia dự yến — nàng chỉ nghiêng đầu đáp lễ, môi nở nụ cười nhạt giữ kẽ, không vồ vập cũng chẳng gạt đi. Đến mấy tên lính gác đứng mé tường bao cũng ngẩn ngơ ngước nhìn.
Khánh dán mắt vào cổ tay trắng ngần vừa lộ ra dưới vạt lụa xanh.
Quanh năm lặn ngụp ở bến sông, cậu chỉ quen thấy đàn bà da sạm cháy nắng, gót chân đóng phèn nứt toác, chưa từng thấy ai sạch và trắng đến nhường này. Nàng đứng giữa đám tài tử áo gấm hệt như một khối ngọc láng mịn không dính nửa hạt bụi đất. Nét đẹp của nàng giống như cách biệt với sự bụi bặm của trần gian.
Đám đông còn đang bu quanh áng thơ thì một tốp người khác lại bước qua cổng chùa.
Mấy ả ca nương từ Phong Nguyệt Quán mang theo tráp trầu và tiền vàng mã, rủ nhau lên chùa cầu siêu cho một ả bạn vắn số chết dạo mùa đông trước. Đi lẫn trong đó là Tố Nga. Nàng mặc áo chẽn thô màu tro, khoác thêm tấm áo chàm cũ, đầu trùm khăn vuông che nửa mặt, nom chẳng khác gì một cô gái quê lên chùa thắp hương.
Trong khi mấy ả ca nương rẽ về phía gian thờ vong, Tố Nga đi chậm rì dọc hành lang vắng. Ánh mắt sau mép khăn không nhìn tượng Phật, mà kín đáo đảo qua các chốt lính canh và mấy lối rẽ sâu vào Hậu viện.
Thấy Khánh đang chống cán chổi đứng nép dưới hiên chái tây, nàng liền lướt bước về phía ấy.
Đến gần mép hiên, Tố Nga hơi chậm lại. Hai ngón tay khẽ vén mép khăn trùm lên một chút, khóe môi hơi nhếch lên một tia cười mỏng mảnh hướng thẳng về phía cậu.
Khánh thấy gai ốc chạy dọc sống lưng, bụng dạ thắt lại.
Nàng lướt qua nhẹ bẫng, tà áo bỗng chốc quay lại hoà vào dòng người vào Đại điện, để lại mùi vỏ quế khô thoảng qua chóp mũi Khánh.
Khánh nắm chặt cán chổi tre già, dõi theo bóng áo xám vừa khuất. Tiếng chuông đồng trên gác cao lại gióng lên một hồi trầm đục, ngân dài rồi lịm dần vào tiếng người ồn ã ngoài sân.
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.