Đăng Thiên

Quyển 1: Bạch Vân Thiên

Chương 43: Nhất Vân, Nhất Bá, Nhị Thiên Sơn

Đăng: 05/11/2026 11:06 2,115 từ 10 lượt đọc


Sau một buổi sáng kể chuyện không ngừng, dường như chưa đã nghiện, buổi chiều Đỗ Chiến lại tiếp tục với câu chuyện dở dang về Thập Đại Thánh Địa:

— " Cô có biết trong Thập Đại Thánh Địa, hiện tại nơi nào có đủ tư cách sánh ngang với hai gã khổng lồ Hùng Bá Thiên Hạ Hội và Bạch Vân Thương Hội không? Nhất Vân, nhất Bá , nhị Thiên Sơn. Chỉ có duy nhất Thiên Sơn Kiếm Tông mà thôi."

Lam Giang lẳng lặng ngồi nhắm mắt xếp bằng bế quan, tay vẫn giữ trên bao đao, nàng đã quá quen với cái van nước lại chuẩn bị mở của gã.

Đỗ Chiến thong thả kể tiếp. Trước khi xảy ra biến cố phân liệt tàn khốc, Thiên Sơn Kiếm Tông là một trong ba thế lực tối cao mạnh nhất toàn bộ Linh Giới. Nguồn gốc của Thiên Sơn Kiếm Tông thậm chí còn xa xưa hơn nhiều Nguyễn Ngọc tiên triều. Thời điểm Thái Tổ khai quốc, nó mang danh Tây Hải Kiếm Tông — một siêu cấp tông môn lừng lẫy từ thời Cận Đại.

Trải qua thời kỳ Linh Giới cạn nước, Tây Hải Kiếm Tông dần suy tàn, số lượng tu sĩ Động Thiên Cảnh không còn nhiều như trước, nhưng nơi đây vẫn là thánh địa tối cao trong lòng kiếm tu thiên hạ,. Cho đến khi Nguyễn Ngọc Thái Tổ dấy binh, lập quốc, bắt đầu chinh phạt các tông môn, Tây Hải Kiếm Tông thua trận. Thế nhưng bọn họ không chịu cúi đầu trước Nguyễn Ngọc Thái Tổ mà mang theo toàn bộ tông môn chạy lên vùng Bắc Băng Nguyên xa xôi hoang lạnh phía cực Bắc Linh giới.

Ẩn nấp hơn mấy ngàn năm tích lũy lực lượng, Thiên Sơn kiếm tông mặc dù càng thêm thu nhỏ nhưng tránh đi phần lớn các đợt càn quét của Nguyễn Ngọc tiên triều. Sau khi Nguyễn Ngọc Thái Tổ qua đời, Thiên Sơn kiếm tông bắt đầu tham gia tích cực vào việc tạo phản chống lại sự thống trị của tiên triều. Sau khi Nguyễn Ngọc Minh Đế lên nối ngôi, bắt đầu thực thi các sắc lệnh tàn bạo đối với các tông môn, thánh địa, ngọn lửa phản kháng bắt đầu bùng lên ở nhiều nơi. Thiên Sơn kiếm tông cũng hoạt động càng thêm tích cực.

Trận chiến cuối cùng của Nguyễn Ngọc Minh Đế chính là trận chiến mà Thiên Sơn kiếm tông đã ấp ủ từ lâu. Họ huy động phần lớn nhân lực vật lực phục kích quân triều đình. Thiên Sơn thái thượng lão tổ cùng hai vị lão tổ mạnh nhất của các tông môn khác quyết chiến Nguyễn Ngọc Minh Đế trên dãy Quyết Sơn, đánh nát hơn năm mươi ngọn núi. Nhưng Thiên Sơn kiếm tông cũng tính sai một điều, thực lực của Nguyễn Ngọc Minh Đế quá khủng khiếp. Ba vị Thái thượng lão tổ đều chết trận. May mắn cho Thiên Sơn kiếm tông là trong quá trình chiến đầu, bí pháp của Minh Đế bị phá vỡ, khí tức lộ ra. Và Thần đã chú ý.

Minh Đế hóa điên, khiến Thiên Sơn kiếm tông an toàn thêm nhiều năm. Nhưng ân oán tình cừu giữa Thiên Sơn kiếm tông không vì thế mà chấm dứt. Sau khi Minh Đế tự sát, Thiên Sơn kiếm tông chưa kịp tìm cách quay về Tây Hải thì đã nhận một tin sét đánh. Một phần thân thể của Minh Đế hóa thành Bất Tử Bắc Vương, rơi xuống Bắc Băng Nguyên. Nó bắt đầu xưng bá, đẻ con và thống trị toàn bộ Băng Nguyên. Thiên Sơn Kiếm Tông đành phải rút sâu vào dải núi Thiên Sơn hùng vĩ ẩn nấp chờ thời, nhưng lâu dần họ cũng quên luôn nguồn gốc của mình là Tây Hải kiếm tông, chính thức trở thành Thiên Sơn kiếm tông. Ở sâu trong dãy núi, bị bao quanh bởi lũ quái vật, tài nguyên và nhân tài càng ngày càng suy tàn, Thiên Sơn kiếm tông đã bước nửa bước vào con đường diệt vong.

Thế nhưng khổ tận cam lai, vào thời điểm suy tàn đến đỉnh điểm ấy, tông môn lại nuôi dưỡng ra hai vị kiếm sĩ kiệt xuất dưới thời cai trị của Tiên triều . Đó là Xuân Hương chân nhân và Thái Hoằng chân nhân. Bọn họ dùng sức của mình tiêu diệt quái vật, mở mang ranh giới cho Thiên Sơn kiếm tông. Không ít dòng dõi mạnh nhất của Bắc Vương từng có ý đồ đặt chân lên Thiên Sơn. Chúng mang theo sức mạnh hung tàn của hậu duệ Thần ma. Dưới trường là hàng vạn con quái vật tập hợp thành đội quân hùng hậu. Thế nhưng tất cả đều bỏ mạng dưới sự hợp sức của hai vị đại kiếm sĩ.

Suốt mấy trăm năm, nhờ có Xuân Hương chân nhân và Thái Hoằng chân nhân gánh vác, Thiên Sơn Kiếm Tông không những đứng vững mà còn quật khởi mạnh mẽ. Họ liên lạc được với các thương hội, mở ra tuyến đường thương mại bán các đặc sản hiếm có của dãy Thiên Sơn và Bắc Băng Nguyên vào sâu trong nội địa Linh Giới. Họ cũng thu hút rất nhiều nhân tài dựa vào danh tiếng của hai vị chân nhân. Thiên Sơn kiếm tông dần hưng thịnh trở lại. Thêm nữa thời kỳ Nguyễn Ngọc Uy Đế trị vì, tông môn cùng tiên triều cũng bắt tay giảng hòa, không còn ai cản trở, Thiên Sơn kiếm tông dần trở lại thời kỳ đỉnh cao của nó.

Nguyễn Ngọc Uy Đế băng hà, Hoa Điển Lục Vương xuất hiện, biến kinh đô thành vùng cấm. Nguyễn Ngọc tiên triều dường như sụp đổ, mất sạch danh tiếng, tổn hao rất nhiều nhân lực vật lưc và vô số truyền thừa. Mạt Đế mang theo số ít quần thần trốn về An Định thành lập kinh đô mới. Thiên Sơn kiếm tông thậm chí còn được Mạt Đế mời trở thành hộ quốc kiếm tông. Rồi Mạt Đế cũng chết bất đắc kỳ tử. Tây Vương mang theo ngàn dặm hồng thủy cuốn trôi vô số tông môn. Nhưng ở xa Bắc Băng Nguyên Thiên Sơn kiếm tông thậm chí còn không hao tổn nửa sợi lông. Bọn họ trở thành vô cự bá trong các tiên môn thời điểm đó.

Mãi sau này khi Hùng Bá Thiên Hạ Hội dưới trướng An Dương Công và Bạch Vân thương hội được Hoàng Duy dẫn dắt mới từ từ đuổi kịp Thiên Sơn kiếm tông. Câu nói: “Nhất Vân, nhất Bá, nhất Thiên Sơn” bắt đầu nổi lên từ đó. Người ta vẫn nói “không ai giàu ba họ, không ai khó ba đời”. Bi kịch của Thiên Sơn kiếm tông bùng nổ vào tám trăm năm trước, sau khi hai vị đại kiếm sĩ trước sau tọa hóa. Thiên Sơn Kiếm Tông bất ngờ từ trên đỉnh cao rơi xuống thành tông môn lót đáy trong Thập Đại Thánh Địa. Tất cả bắt nguồn từ cuộc chiến mà người ta gọi là Nội ngoại chi tranh.


Từ thời Tây Hải kiếm tông, truyền thừa của kiếm tu đã luôn gắn với hai phương pháp tu hành: Nội Kiếm và Ngoại Kiếm. Tu sĩ theo Ngoại Kiếm sử dụng Kiếm hạp, đúc sẵn các thanh Tiên kiếm rồi nuôi dưỡng trong Kiếm hạp. Kiếm được nuôi trong Kiếm hạp càng lâu thì càng sắc bén, uy lực bộc phát càng khủng bố, thậm chí chỉ cần khống chế được một thanh tuyệt thế Tiên kiếm là tu sĩ có thể vượt cấp chiến đấu. Thế nhưng Ngoại Kiếm có nhược điềm là cần tiêu tốn tài nguyên khổng lồ để rèn đúc tiên kiếm, sức mạnh lại phụ thuộc nhiều vào ngoại lực nên đôi khi bị phản phệ. Tuy nhiên, Kiếm hạp có thể truyền lại cho hậu nhân nên rất được các gia tộc ưa chuộng.

Ngược lại, phe Nội Kiếm cả đời chỉ nuôi dưỡng duy nhất một Kiếm hoàn trong cơ thể, không tốn một đồng tài nguyên. Ban đầu Nội Kiếm rất yếu vì Kiếm hoàn chưa thể biến hóa ra nhiều tiên kiếm. Nhưng theo tu vi chủ nhân càng cao, kiếm thuật lĩnh ngộ càng nhiều thì Kiếm hoàn càng trở nên mạnh mẽ. Thậm chí tương truyền một Kiếm hoàn có thể diễn biến thành hàng vạn thanh kiếm cùng lúc. Chỉ có điều... khi chủ nhân chết đi, Kiếm hoàn cũng vĩnh viễn tan biến. Thế nên Kiếm hoàn thường chỉ có những tu sĩ có căn cốt và ngộ tính cực tốt mới dám tu hành.

Khi mà linh khí tràn đầy, Linh giới đầy rẫy bảo vật, một người kiếm tu có thể vừa nuôi dưỡng Nội kiếm vừa rèn đúc ngoại kiếm. Ngoại kiếm giúp họ hộ đạo khi tu vi còn thấp kém, nội kiếm giúp họ xưng hùng xưng bá khi đã thành cao thủ. Đây cũng là lí do mà Tây Hải kiếm tông trở nên vô địch khắp Tây Hải thời Cận đại. Thế nhưng khi Linh giới cạn nước, bảo vật suy tàn, linh khí cạn kiệt, kiếm tu chỉ có thể lựa chọn một trong hai con đường: Nội kiếm hoặc ngoại kiếm. Trải qua thời kỳ dài chia tách, đến thời Thiên Sơn kiếm tông nó dường như đã là hai con đường tu hành riêng biệt, tách hẳn nhau.

Nội ngoại chi tranh của kiếm tông cũng bắt nguồn từ đó. Ban đầu chỉ là tranh giành vị trí Chưởng môn sau khi hai vị đại kiếm sĩ tọa hóa, rồi tiến hóa thành xung đột tàn khốc giữa hai con đường tìm kiếm tiên đạo. Phe nào cũng muốn có được tài nguyên tốt nhất, nhân tài tốt nhất cho mình.
Ban đầu phe Ngoại kiếm chiếm ưu thế. Xuân Hương chân nhân qua đời để lại chiếc Băng Hà kiếm hạp — chứa bảy thanh Tiên kiếm hệ Băng tuyết mạnh nhất Linh Giới. Người thừa kế của bà cũng trở thành cao thủ số một của Thiên Sơn kiếm tông. Trong khi đó, khi Thái Hoằng chân nhân tọa hóa thì Kiếm hoàn của ông cũng tan biến theo vào Động Thiên. Phe nội kiếm thời điểm đó cũng không có ai đủ sức chống lại truyền nhân của Băng Hà kiếm hạp. Thế là phe Ngoại Kiếm đè ép phe Nội Kiếm, chiếm lấy ngôi vị Chưởng môn. Thế nhưng cuộc tranh chấp con đường "Nội kiếm hay Ngoại kiếm mới là Kiếm đạo chính thống" không bao giờ dứt. Nó chỉ như ngọn núi lửa chảy âm ỉ dưới lòng biển chỉ chờ chực phun trào.

Phe Nội kiếm cũng có ưu thế của riêng mình. Những người trẻ tuổi thông thường sẽ phân vân giữa hai phương pháp tu hành. Còn những thiên tài kiệt xuất sẽ luôn ưu ái Nội kiếm hơn. Bởi ai cũng hiểu rõ tu hành càng lâu, nội kiếm càng xuất chúng, càng thiên về tự thân, không bị ngoại lực ảnh hưởng. Phe Nội Kiếm bằng việc kiên trì nuôi dưỡng nhân tài đã sản sinh hàng loạt kiếm sĩ kiệt xuất. Và rồi khi tích lũy đủ sức mạnh để đối đầu trực tiếp với Băng Hà kiếm hạp, phe Nội kiếm không ngần ngại bốc lên chiến tranh.

Sự đẫm máu và thảm khốc của Nội ngoại chi tranh đã khiến Thiên Sơn kiếm tông tổn thất quá nửa số cao thủ hàng đầu. Thiên Sơn cũng thành chiến trường, linh điền bị phá hủy, linh thú bị tàn sát, bỏ chạy rất nhiều. Phe Nội Kiếm cũng không thể giành được thắng lợi, đành rời bỏ Tây Thiên Sơn, kéo nhau sang phía Đông tự thành lập một Thiên Sơn Kiếm Tông khác. Người đời sau gọi phe Nội Kiếm là Hoàn Kiếm Tông ở Đông Thiên Sơn, phân biệt với Hạp Kiếm Tông ở Tây Thiên Sơn. Sau khi chiến tranh và phân liệt, Thiên Sơn kiếm tông thứ vị trí đứng đầu Linh giới rơi xuống cuối cùng của Thập đại thánh địa. Câu nói: “Nhất Vân nhất Bá nhất Thiên Sơn” cũng bị miệng lưỡi nhân gian trêu đùa, trở thành “Nhất Vân nhất Bá, nhị Thiên Sơn”. Tuy nhiên, các thánh địa khác cũng không ai dám xem thường họ bởi biết đâu ngày nào đó, khi Linh giới trở về mùa nước nổi, hai con đường lại hợp nhất thành một thì sao?


0