Quyển 1: Giang Hồ Bắt Đầu Từ Bát Mì
Chương 4: Giang Hồ Phổ Viết Sai Rồi
Lý Hảo Thực tỉnh dậy vì vai phải đau. Không phải đau theo kiểu nằm sai tư thế, không phải đau theo kiểu ngã xuống đất, mà là đau theo kiểu ai đó đặt một tảng đá lên vai hắn suốt đêm rồi vừa nhấc ra lúc sáng sớm. Hắn nằm nhìn lên mái quán, đếm mấy cái lỗ thủng để ánh sáng lọt qua thành từng tia mảnh như kim chỉ, và hắn nhớ ra.
Chu Bá Thông đã vỗ vai hắn.
Hắn ngồi dậy, thử xoay vai, cảm giác xương nghiến vào nhau theo nhịp khá khó chịu. Hắn vỗ nhẹ vào chỗ đau mấy cái rồi tự nhủ đây là thứ ông lão Tuyệt Đỉnh Ngũ Phẩm gọi là vỗ vai thân thiện, và hắn thầm cảm ơn trời đất vì ông lão không ôm lấy hắn kiểu huynh đệ lâu ngày tái ngộ.
Hắn đứng dậy, kéo căng người, nghe lưng kêu răng rắc, rồi đi ra ngoài.
Mảnh đất phía sau quán không rộng nhưng cũng đủ để từng là một cái vườn nào đó, bằng chứng là còn sót lại vài hàng đất được vun lên có chủ ý, giờ bị cỏ dại lấn hết. Hắn đứng nhìn, cúi xuống, ngắt một cái lá, đưa lên ngửi.
Rau tàu bay, loại mọc thành từng bụi rậm rạp ở góc tường.
Hắn tiếp tục đi dọc theo vạt đất. Rau dền thân đỏ chen vào giữa mấy bụi cỏ cao, lá dày mượt còn dính sương sớm. Xa hơn có mấy nhánh tía tô mọc hoang, thân tím ngắt, mùi hắc đặc trưng nổi bật hẳn so với mọi thứ xung quanh. Trong đầu hắn tự động phân loại tàu bay xào tỏi được, rau dền nấu canh được, tía tô để ăn kèm hoặc ướp thịt được. Ba loại, mỗi loại một công dụng, tất cả mọc hoang không tốn một đồng.
Gần bờ tường phía đông, dưới một bụi cây, hắn tìm thấy ba cái trứng chim nằm trong cỏ khô, có màu trắng ngà, nhỏ bằng nắm tay, vỏ trơn nhẵn. Hắn nhìn xung quanh không thấy chim mẹ, nhìn lên cành cây cũng không thấy tổ. Hắn cầm lên hai quả, để lại một quả. Không phải vì hắn tốt bụng, mà vì hắn không chắc chim mẹ đã bỏ tổ thật hay chỉ đi vắng, và hắn muốn chừa đường lui phòng khi mình đoán sai.
Đây chắc chắn không phải logic của một food blogger chuyên nghiệp. Nhưng giang hồ hiểm ác, lương tâm còn lại bao nhiêu thì giữ bấy nhiêu, ít ra đêm nay hắn còn ngủ yên giấc được.
Hắn ôm rau và hai cái trứng đi vào bếp, vừa đi vừa mở Giang Hồ Phổ ra. Cuốn sổ bìa da tự mở khi tay hắn chạm vào. Hắn tìm đến mục hắn bỏ dở hôm qua, tên mục là hai chữ lớn: "Vạn Giới Giao.". Chữ bắt đầu hiện lên từng dòng.
"Vạn Giới Giao là điểm giao nhau của bốn vùng giang hồ. Phía đông là vùng Trung Nguyên, nơi chính tà phân tranh, anh hùng hào kiệt nổi danh thiên hạ theo kiếm đạo chính thống."
Hắn gật đầu. Đúng như hắn đoán từ ngày đầu tiên.
"Phía tây là vùng Tây Vực, nơi sương mù không tan, kiếm ý như rượu, mỗi người đều mang theo một câu chuyện mà chưa kể xong."
Hắn dừng lại, đọc lại câu đó thêm một lần. Kiếm ý như rượu, câu chuyện chưa kể xong. Sổ viết như vậy mà không giải thích thêm gì. Hắn nhìn về phía tây, nhớ đến cái màn sương u ám ngày đầu tiên, rồi nhớ đến tất cả những nhân vật Cổ Long hắn từng đọc, người nào cũng đẹp, người nào cũng cô đơn, người nào cũng có một nỗi đau giấu trong đáy chén rượu không chịu chia cho ai. Thì ra phía tây là vùng đất của những người uống rượu nhiều hơn ăn cơm.
Hắn trong đầu tự nhẩm rằng nếu có ngày mở chi nhánh phía tây thì menu chắc chắn phải có ít nhất mười loại rượu, thực phẩm chỉ là phụ thôi.
"Phía nam là vùng Giang Nam, nơi nắng ấm quanh năm, anh hùng trẻ tuổi nhiều như lá rừng, thiên tài xuất hiện rồi lại biến mất theo chiều gió."
"Phía bắc là vùng Thiên Bắc, nơi tuyết phủ không ngừng, sức mạnh vượt trên mọi ranh giới, anh hùng ở đây không cần danh hiệu vì thiên hạ tự khắc biết."
Hắn nhìn lên, ngẩn người một chút. Phía bắc nghe như nơi mà nếu hắn lỡ đi giao cháo sang đó, hắn sẽ về không còn nguyên vẹn. Hắn ghi nhớ điều này và quyết định chưa có kế hoạch giao hàng phía bắc trong tương lai gần.
Nước trong nồi bắt đầu sôi lăn tăn. Hắn gấp cuốn sổ lại, đứng dậy nhặt rau.
Hắn rửa rau tàu bay, ngắt bỏ phần thân già, chỉ lấy đọt non. Lá còn dính sương, mướt và xanh mượt, khi vò nhẹ trong lòng bàn tay thì mùi rau tươi bốc lên thơm mát và hơi chan chát, cái mùi mà bất kỳ ai lớn lên ở thôn quê đều nhận ra ngay mà không cần ai chỉ. Hắn thái nhỏ, nhịp dao đều đặn trên thớt gỗ.
Hắn đập trứng ra bát. Lòng đỏ vàng sậm và đặc hơn trứng gà thành phố, có cái gì đó thuần khiết trong màu vàng đó mà hắn không định nghĩa được. Hắn đánh tan, nêm nhúm muối nhỏ, rồi đổ vào nồi theo vòng tròn từ ngoài vào trong. Trứng chín phồng lên trắng ngà, bồng bềnh trên mặt canh xanh, mùi rau quyện với mùi khói bếp bốc lên ấm áp theo cách mà những nguyên liệu tốt bao giờ cũng làm.
Hắn nếm thử, nhắm mắt lại. Ngon hơn hôm qua nhiều, không phải vì hắn nấu giỏi hơn mà vì nguyên liệu tươi, và nguyên liệu tươi thì luôn thắng kỹ thuật ở đường dài.
Hắn tự ăn bữa sáng một mình trong quán vắng.
Buổi trưa không có khách. Hắn ngồi trước cửa quán, nhìn bốn con đường trống vắng dưới nắng trưa, nhẩm tính rằng hôm nay chắc chỉ phục vụ bản thân. Giang hồ bận, hoặc giang hồ không biết quán này tồn tại, hoặc giang hồ biết nhưng chưa đói đủ để ghé vào một chỗ chỉ có cơm trắng và canh rau.
Đến chiều, khi hắn đang ngồi lau lại mấy cái chén sứt mẻ thì có người đến.
Một người đàn ông và một người phụ nữ bước vào quán.
Trông họ rất bình thường. Đó là ấn tượng đầu tiên và rõ ràng nhất của hắn. Người đàn ông trạc bốn mươi, mặc áo vải thô màu nâu bạc, khuôn mặt sạm nắng, tay có vết chai của người lao động chân tay. Người phụ nữ nhìn tuổi tác cũng tương đương, vóc dáng gọn gàng, tóc vấn đơn giản, áo bình thường đến mức nếu ai hỏi hắn tả lại màu sắc thì hắn chịu thôi. Họ nhìn quanh quán một lượt, không tỏ ra ngạc nhiên hay dè chừng gì, chọn cái bàn gần cửa sổ và ngồi xuống.
Hắn lén mở Giang Hồ Phổ ra, liếc nhanh theo thói quen.
Cuốn sổ hiện chữ ngay.
"Không rõ danh tính. Khu vực: vùng Trung Nguyên, phía đông."
Hắn nhìn dòng chữ đó rồi nhún vai, gấp sổ lại. Không rõ danh tính thì là người thường, giang hồ mấy chục triệu người, không thể ai cũng được ghi vào sổ. Hắn thở ra nhẹ nhõm một cái.
Khách bình thường, không cần run tay lần này.
"Có gì ăn không?"
Người đàn ông hỏi, giọng bình thản.
"Cơm trắng và canh rau."
Hắn đáp.
"Thịt chưa có."
"Hai suất là được."
Hắn vào bếp, vo thêm gạo, bắc nồi cơm, rồi nấu thêm một nồi canh cho khách. Lần này hắn không nấu nhanh cho xong. Tía tô thả vào nước trước để ngấm mùi thơm hắc, rau tàu bay vào sau khi nước đã đổi màu, trứng đổ vòng tròn bồng bềnh trên mặt canh xanh. Mùi tía tô và rau chín quyện vào nhau, theo khói bếp bay ra ngoài, lan sang đến tận chỗ hai người khách ngồi chờ.
Hắn bày ra hai suất, đặt lên bàn. Hai người ăn chậm rãi và im lặng, không phải im lặng ngại ngùng của người lần đầu đến chỗ lạ mà là im lặng thoải mái của người không thấy cần phải nói gì. Hắn ngồi sau quầy lau chén, thỉnh thoảng liếc sang.
Lần đầu liếc sang, hắn thấy người đàn ông đang múc canh. Lần thứ hai liếc sang, hắn thấy người phụ nữ đang gắp rau. Bàn tay người phụ nữ cầm đũa theo kiểu lạ, ngón trỏ và ngón giữa kẹp đũa ở vị trí cao hơn thường lệ, đũa nghiêng một góc rất nhỏ khi gắp, lá rau nhấc lên không một tiếng động dù bát canh còn nóng bỏng. Hắn chớp mắt, rồi nhìn lại vào cái chén hắn đang lau.
Cách cầm đũa lạ. Ăn gì mà cẩn thận vậy không biết.
Hắn không nghĩ thêm gì nữa, tiếp tục lau chén.
Ăn xong, người đàn ông đặt bát xuống.
"Canh ngon. Rau tươi."
"Rau trồng sau vườn."
Hắn nói.
Người phụ nữ không nói gì, chỉ gật đầu một cái rất nhẹ.
Người đàn ông đặt lên bàn mấy đồng bạc vụn, rồi đứng dậy. Người phụ nữ đứng dậy theo. Họ bước ra cửa, đi về phía đông, bước chân chắc và đều như lúc vào, không nhìn lại.
Hắn ngồi nhìn theo cho đến khi hai bóng người khuất sau khúc quanh con đường, rồi đứng dậy dọn bàn.
Hắn lấy khăn lau mặt bàn, lau từ phía trong ra phía ngoài theo thói quen, và tay hắn dừng lại.
Hắn nhìn xuống. Trên mặt gỗ, ở góc phía trái, có một vết xước. Không phải vết xước mục nát tự nhiên, không phải vết trầy do bát đĩa cọ vào, không phải vết dao kẻ vô tình chém nhầm. Một vết được tạo ra có chủ ý, nét mảnh và đều như tơ, khắc xuống mặt gỗ đủ sâu để thấy rõ nhưng không phá vỡ thớ gỗ xung quanh, không một mảnh vụn nào bắn ra.
Hình một chiếc lá. Cuống ngắn, phiến lá tròn, gân phân nhánh rõ ràng, tỉ lệ chính xác đến từng nét. Kích cỡ bằng đầu ngón tay cái.
Hắn đặt đầu ngón tay lên, chạy theo đường nét. Gỗ mặt bàn này cứng, hắn biết vì mấy hôm nay hắn hay đập dao thái vào đó và dao thái dội lại tay hắn chứ không ăn vào gỗ. Vậy mà vết này sâu và đều từ đầu đến cuối, không một điểm run tay, không một chỗ nông hơn chỗ còn lại, không dấu hiệu của bất kỳ dụng cụ nào.
Hắn đứng thẳng lên, nhìn qua cửa về phía con đường phía đông. Không còn ai ở đó, chỉ có nắng chiều và gió và tiếng cỏ rào rào theo gió.
Hắn cầm Giang Hồ Phổ lên, mở ra trang cũ, dòng chữ vẫn còn nguyên:
"Không rõ danh tính. Khu vực: vùng Trung Nguyên, phía đông."
Hắn nhìn dòng chữ đó lần này lâu hơn lần trước rất nhiều.
Hôm qua sổ ghi đúng về Chu Bá Thông, từng chữ một, tu vi, tính cách, lai lịch, tất cả đều khớp với những gì hắn đọc trong nguyên tác và những gì hắn thấy tận mắt. Hắn đã nghĩ đây là công cụ đáng tin cậy nhất hắn có trong thế giới này, thứ duy nhất giúp hắn không bị bất ngờ hoàn toàn mỗi khi có khách bước vào cửa.
Nhưng cuốn sổ ghi "không rõ danh tính" về hai người vừa ngồi ăn cơm ở bàn đó cả một buổi chiều. Hai người vừa để lại trên mặt gỗ cứng một vết khắc hình chiếc lá mà đến dao bếp của hắn còn không ăn vào được. Hắn không hiểu nhiều về võ công, nhưng hắn hiểu về gỗ, và hắn biết chắc người thường không làm được điều này.
Vậy mà cuốn sổ không biết họ là ai.
Hắn đặt cuốn sổ xuống, nhìn lại vết lá trên bàn, rồi nhìn ra bốn con đường, rồi nhìn lên bầu trời chiều đang ngả sang màu vàng nhạt ở phía tây. Thế giới này rộng hơn những gì cuốn sổ ghi, rộng hơn những gì hắn đọc trong nguyên tác của các tác giả. Ngoài kia đang có những người không có tên trong bất kỳ trang giấy nào hắn từng lật qua, đang đi trên những con đường mà hắn chưa từng hình dung, và một số trong số đó đã ghé qua đây, ăn bát cơm của hắn, và để lại một dấu hỏi trên mặt bàn gỗ mà hắn không hiểu hết ý nghĩa.
Nếu cuốn sổ này sai thì sao?
Hắn nhìn cuốn Giang Hồ Phổ thêm một lúc, rồi tiếp tục lau bàn.
Hệ thống thông báo khe khẽ trong đầu hắn:
"Hai khách vô danh rời quán. Điểm tửu lâu cộng hai. Hảo cảm: không xác định."
Hắn dừng tay lau, nhìn dòng chữ trong đầu, rồi nhìn xuống vết lá trên mặt bàn. Cuốn sổ không biết, hệ thống cũng không biết. Hai thứ đáng tin nhất hắn có trong thế giới này, gặp hai người ăn cơm bình thường nhất, và cả hai đều bó tay.
Hắn bật cười nhẹ một tiếng, không rõ cười vì buồn cười hay cười vì không biết phải làm gì khác. Rồi hắn lau nốt cái bàn, cẩn thận lau vòng quanh vết lá mà không lau lên nó, như thể đó là thứ duy nhất hôm nay hắn muốn giữ lại.
Được yêu thích bởi: Tiên Nữ Say Xỉn
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.