Vạn Hiệp Tửu Lâu

Quyển 1: Giang Hồ Bắt Đầu Từ Bát Mì

Chương 2: Bếp Lạnh Nổi Không

Đăng: 09/06/2026 06:57 2,079 từ 3 lượt đọc

"Hệ thống Vạn Hiệp Tửu Lâu kích hoạt. Chào mừng chủ quán."

Hắn ngồi im với câu đó trong đầu thêm một lúc nữa, để nó lắng xuống như bột mì rắc vào nước, từ từ, không vội. Rồi hắn hỏi:

"Hệ thống là cái gì?"

Một sự im lặng trong một phút, giọng nói không trả lời. Hắn đợi thêm mười lăm giây, không có gì thêm. Đúng kiểu hệ thống xuất hiện đúng lúc để gây bất ngờ, biến mất đúng lúc để tránh câu hỏi khó.

Hắn đang định đứng dậy thì nghe tiếng động nhỏ trên mặt bàn trước mặt. Không phải tiếng gì mạnh, không phải tiếng nổ, chỉ là một âm thanh khẽ khàng như ai đó đặt một vật nhỏ xuống gỗ, cái tiếng "chạm" của thứ gì đó có trọng lượng và có tuổi tác.

Hắn nhìn xuống thì thấy trên mặt bàn có một cuốn sổ.

Không phải sổ hiện đại, không phải sổ tay bìa cứng loại mua ở hiệu sách, mà là một cuốn sổ cũ theo đúng nghĩa cũ nhất có thể hình dung. Bìa da màu nâu sẫm sờn rách ở các góc, gáy sổ được khâu bằng sợi chỉ thô đã ngả vàng, mặt bìa có hai chữ khắc chìm không sơn màu, phải nhìn nghiêng mới đọc được là "Giang Hồ Phổ".

Hắn nhìn cuốn sổ, cuốn sổ nằm yên trên mặt bàn như đã ở đó từ trước, kiên nhẫn chờ người mở ra.

Hắn đưa tay chạm vào bìa, bìa da ấm hơn nhiệt độ phòng một chút, như thể nó vừa được ai đó cầm. Rồi hắn mở ra.

Trang đầu trắng tinh. Rồi chữ bắt đầu hiện lên, từng nét một, chậm rãi như ai đó đang ngồi viết bằng bút lông ở đâu đó bên trong cuốn sổ này: "Chào mừng chủ quán đến Vạn Giới Giao."

Hắn nhìn dòng chữ đó, nhìn tay mình đang cầm cuốn sổ, nhìn lại dòng chữ.

"Ta ở đâu?"

Hắn hỏi, không biết hỏi ai, nhưng cứ hỏi thử.

Chữ lại hiện lên:

"Vạn Giới Giao. Nơi giao nhau của mọi giang hồ trong thiên hạ."

Hắn gật đầu, ghi nhận, rồi hỏi tiếp:

"Giang hồ nào?"

Chữ hiện lên:

"Tất cả."

Hắn ngồi im với câu trả lời đó. Tất cả, hai chữ ngắn gọn nhưng mang trọng lượng của thứ gì đó rất lớn, lớn đến mức hắn cảm nhận được qua đầu ngón tay đang chạm vào trang giấy. Hắn gấp sổ lại, đặt xuống bàn, nhìn ra cửa quán một lúc.

Rồi hắn mở cuốn sổ ra lại và hỏi câu hỏi thực tế nhất có thể:

"Chợ gần nhất ở đâu?"

Cuốn sổ im lặng khá lâu, như đang suy nghĩ xem có nên trả lời không, rồi viết:

"Phía đông, nửa ngày đi bộ."

Hắn gật đầu. Được, ít nhất cuốn sổ biết những thứ thực tế.

"Có ai giao nguyên liệu đến tận quán không?"

Cuốn sổ:

"Không."

"Vậy làm sao có khách nếu không có nguyên liệu để nấu?"

Cuốn sổ lại im lặng, câu hỏi quá thực tế cho một cuốn sổ giang hồ.

Hắn thở dài, lật sang trang tiếp theo. Chữ đã hiện sẵn ở đó, như phần giải thích mà cuốn sổ quyết định đưa ra khi không trả lời được câu hỏi trực tiếp.

"Nhiệm vụ của chủ quán là nấu ăn phục vụ khách. Mỗi lần khách ăn xong hài lòng thì hảo cảm tăng, hảo cảm tích lũy thành điểm tửu lâu, đủ điểm thì quán nâng cấp, quán nâng cấp thì chủ quán mạnh hơn và có nhiều thứ hơn để nấu."

Hắn đọc xong, gật đầu, rồi ngẩng lên nhìn ra ngã tư bên ngoài cửa quán.

"Khách nào?"

Hắn hỏi ra ngoài đó, không hẳn hỏi sổ, không hẳn hỏi hệ thống, chỉ là hỏi vào khoảng không. "Ở cái xó này ai mà đến?"

Cuốn sổ không trả lời, khoảng không cũng không trả lời. Bốn hướng phong cảnh ngoài kia tiếp tục tồn tại theo cách riêng của mình, hoàn toàn không quan tâm đến câu hỏi của hắn.

Hắn gấp sổ lại, rồi đứng dậy. Nếu không ai trả lời được câu hỏi đó thì hắn phải tự tìm câu trả lời theo cách cũ nhất là cứ làm rồi xem sao. Mà muốn làm thì phải có bếp lửa, muốn có bếp lửa thì phải nhóm được đống than nguội lạnh ở góc kia.

Hắn đi vào bếp. Cái bếp than trông đơn giản nhưng đã lâu không dùng đến mức hắn phải mất mười lăm phút vừa thổi vừa quạt vừa nhóm lại nhiều lần. Khói bay mù cả một góc bếp, mắt hắn cay đến mức nhỏ nước mắt mà không phải vì xúc động. Nếu đây là cảnh trong truyện thì tác giả đang miêu tả nhân vật khóc vì nhớ quê hương. Thực tế là hắn khóc vì khói bếp than không chịu bắt lửa đúng chỗ.

Cuối cùng bếp cũng cháy. Lửa màu cam bắt đầu bén vào than, tỏa hơi nóng lên đều đặn. Hắn nhìn ngọn lửa với cảm giác của người vừa thắng trận đầu tiên mà vũ khí là thanh củi mục và kẻ thù là một đống tro ẩm.

Giờ đến trận chiến thứ hai là nấu ăn.

Hắn lấy bao gạo mốc ra, đổ ra một nắm trên mặt bàn bếp, bắt đầu công đoạn mà trong đầu hắn gọi là "phẫu thuật cứu hạt gạo." Tay trái hắn giữ nắm gạo, tay phải nhặt từng hạt dưới ánh sáng lọt qua khe mái quán. Gạo mốc sang trái, còn dùng được sang phải, nhịp đều đặn và chính xác như thói quen của người đã từng phân loại hàng trăm thứ nguyên liệu trước khi nấu. Kiếp trước hắn nhặt rau sâu, nhặt tôm hỏng, nhặt nấm kém tươi. Kiếp này hắn nhặt gạo mốc. Kỹ năng vẫn dùng được, chỉ có hoàn cảnh là khác.

Cuối cùng hắn nhặt được một lượng gạo đủ để nấu một bát cháo, không hơn.

Hắn lấy cái nồi đất trên kệ, vo gạo sơ qua, rồi nhìn quanh tìm nước. Góc bếp phía trong, khuất sau cái kệ gỗ, có một cái chum sành nhỏ phủ nắp gỗ mà hôm qua hắn không để ý vì nó gần như lẫn vào màu tường. Hắn mở nắp ra, nước bên trong trong vắt và mát lạnh, không rõ từ đâu mà có nhưng hắn quyết định không hỏi vì những câu hỏi kiểu này ở đây dường như không ai trả lời. Hắn múc nước đổ vào nồi, đặt lên bếp.

Trong lúc chờ nước sôi, hắn lấy hai củ hành héo ra, đặt lên thớt, cầm con dao bếp cũ lên.

Tay cầm dao vẫn vững, dù lưỡi dao cùn và hành thì héo đến mức gần như không còn nước bên trong. Hắn cắt nhẹ, lưỡi dao đi qua củ hành với một nhát sạch gọn, mùi hành thoảng lên nhẹ nhàng, không nồng, chỉ vừa đủ để hắn biết rằng củ hành này dù héo nhưng vẫn còn chút linh hồn cuối cùng chưa chịu tắt hẳn. Hắn thái đều, mỗi lát mỏng bằng nhau, thao tác nhanh gọn theo nhịp quen thuộc của tay dùng dao đã cắt hàng vạn củ hành ở kiếp trước. Dù nguyên liệu tệ nhất thì thao tác vẫn phải đúng, đó là điều duy nhất hắn kiểm soát được.

Nước đã sôi. Hắn đổ gạo vào, tiếng gạo rơi xuống nước nóng kêu lên xào xạo rồi chìm dần. Hành thái nhỏ rắc theo, lập tức tỏa ra một mùi thơm nhẹ nhàng lẫn trong hơi nước, không nồng nàn, không quyến rũ, chỉ là mùi của "có hành" thay vì "không có gì."

Rồi đến muối, hắn mở hũ, lấy đầu ngón tay bốc một nhúm nhỏ, cân nhắc liều lượng với thái độ nghiêm túc của người biết rằng muối là phòng tuyến cuối cùng có thể cứu vãn bát cháo này, dù có thể kết quả cuối cùng khả năng cao vẫn nằm ngoài phạm vi cứu vãn được. Hắn rắc muối vào, khuấy đều bằng cái muôi gỗ, nhịp tay vẫn đều đặn theo vòng tròn từ trái sang phải, cái nhịp mà bất kỳ đầu bếp nào cũng có, dù đang khuấy nồi mì trăm lít hay bát cháo gạo mốc một người ăn.

Cháo sôi lục bục. Mùi bốc lên là mùi gạo nấu chín, không thơm, không nồng, trung lập đến mức gần như không có lập trường, không hứa hẹn gì và không thất hứa gì.

Hắn hạ lửa, đợi thêm mười lăm phút, múc ra cái chén sứ còn nguyên vẹn nhất trên kệ.

Bát cháo trước mặt màu trắng đục, hơi vàng nhẹ ở mép vì mấy hạt gạo mốc sót lại hắn không nhặt hết, hai mẩu hành héo nổi trên mặt trông như hai chiếc thuyền nhỏ không biết đang trôi về đâu.

Hắn cầm đũa lên, khuấy nhẹ, nếm thử. Vị muối, vị gạo, không có gì khác ngoài hai thứ đó và sự cố gắng của người nấu.

Nếu đây là bài review, hắn sẽ viết là nước cháo loãng, gạo chưa đủ nát, hành mất mùi hoàn toàn vì để lâu, muối nêm đúng lượng là điểm sáng duy nhất, tổng thể không đạt tiêu chuẩn phục vụ khách nhưng đạt tiêu chuẩn tối thiểu để người nấu không chết đói. Điểm xuất phát phải thấp thì mới có chỗ để tiến lên.

Hắn ăn hết bát cháo. Không phải vì ngon mà vì đói, và vì bỏ đi thì phí công ngồi nhặt gạo nãy giờ.

Khi bát cháo ăn hết, hắn để chén xuống bàn, ngồi thêm một lúc trong bếp nghe tiếng lửa than tàn dần. Hơi ấm từ bếp tỏa ra vừa đủ để làm dịu cái lạnh nhẹ mà gió phía bắc thỉnh thoảng đưa vào qua khe cửa. Hắn không nghĩ gì nhiều, chỉ ngồi trong cái yên lặng đó một lúc, cảm nhận cái bình thường nhỏ bé của việc vừa tự nấu xong và tự ăn xong một bữa trong một thế giới hoàn toàn xa lạ.

Rồi hắn đứng dậy, mang chén ra ngoài rửa, rồi ra ngồi trước cửa quán.

Chiều bắt đầu xuống, ánh nắng phía nam nhạt dần, bóng dài ra theo hướng bắc. Ngã tư hoang vu vẫn hoang vu như lúc hắn tỉnh dậy sáng nay, bốn con đường chạy dài ra bốn phía không có bóng người. Gió từ phía đông đổi chiều, mát hơn, mang theo mùi cỏ ẩm của buổi tối sắp đến.

Hắn ngồi nhìn bốn hướng, lần đầu tiên đặt ra câu hỏi một cách nghiêm túc là nên ở hay rời đi?

Nếu rời đi, hắn đi về đâu? Phía đông có núi non, có chợ, có người, nhưng cũng có giang hồ mà hắn không biết gì về cách vận hành. Phía tây có sương mù và mùi lạnh của thứ hắn chưa gọi tên được. Phía nam nóng quá, phía bắc lạnh quá. Mà nghĩ cho cùng, kiếp trước hắn cũng không có gì đáng ở lại, bị quán bị kiện, tiền hết, bạn bè không nhiều, bà con không gần. Ở đây hay ở đó, cũng chỉ là một mình với một cái bếp.

Ít nhất cái bếp ở đây vừa nhóm lửa được rồi.

Hắn ngồi với suy nghĩ đó, không vội trả lời, để gió từ bốn hướng thổi qua mặt và để câu hỏi tự lắng xuống theo cách riêng của nó.

Tấm biển "Vạn Hiệp" trên cửa lại nghiêng thêm một chút trong gió, sợi dây còn lại kẽo kẹt nhẹ. Hắn nhìn tấm biển đó, nhớ lại cảm giác mặt gỗ ấm lên dưới lòng bàn tay lúc sáng, cái ấm nhẹ và nhanh như một lời hứa chưa kịp nói thành lời.

Rồi hắn nghe tiếng bước chân. Từ phía đông, còn xa, nhưng rõ ràng, nhịp điệu đều đặn của người đang đi bộ theo con đường mòn, không vội vã nhưng cũng không chậm chạp, bước đi của người biết mình đang đi về đâu.

Hắn ngồi thẳng người lên, nhìn về phía đó. Bóng chiều dài ra trên mặt đường, và đâu đó cuối con đường phía đông, có bóng người đang đến gần.

0